Sáng mai nay như một ả giang hồ
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=348000
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=348000
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=347609
1.Chuyện rằng: “ Có một chú ngựa bền bỉ, kiên trì, chịu đựng bao nhiêu gian khó vượt qua từng chặng đường dài. Cuối cùng Ngựa cũng lên đến được tới đỉnh. Tiếng hí sung sướng, kiêu hãnh cất lên chưa kịp tắt thì Ngựa chợt thấy chung quanh mình biết bao nhiêu là Ốc. Con bò, con ngồi nghênh ngang khắp nơi. Ngựa lấy làm ngạc nhiên, hỏi:
-Ta nỗ lực phấn đấu, vượt qua bao khó khăn, thử thách, thậm chí hiểm nguy mới lên được đến đây. Các người chậm lụt, tài trí bao nhiêu mà sao cũng lên được chỗ này?
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=346109
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=343845
1.“Ông tha, bà cũng chẳng tha; Làm ra cái lụt hăm ba tháng mười”. Câu ca người dân Quảng Nam nào cũng biết. Cứ “đến hẹn lại lên”, hạn 23/10 âm lịch là trời mưa gió kèm theo lũ lụt chực chờ đe dọa. Sau này, khi có hồ Phú Ninh, Tam Kỳ thoát được những trận lũ kinh người nhưng chuyện nước ngập nơi này nơi kia trong thị xã (thành phố) vẫn không tránh được. Vậy mà, năm nay, khi tôi về đến Tam Kỳ, trời nắng vàng như mùa thu Tây Bắc. Tranh thủ thời tiết đẹp, mấy chị em rủ nhau lên Gò Trời làm đẹp mộ ông bà, cha mẹ,...
Buổi chiều ở Gò Trời thật yên tĩnh. Nghĩa trang nào chẳng yên tĩnh? Có điều, chiều nay, nắng vàng thật nhẹ, gió hiu hiu vừa đủ để khói hương vờn quanh các mộ chí, dùng dằng không muốn bay. Mấy chị em “tóc bạc như nhau” ngồi quanh mộ cha mẹ, cứ như ngày xưa còn bé ngồi quanh ba mẹ vậy. Chuyện thì quanh đi quẩn lại cũng chỉ nói về lúc ba mẹ còn sống. Ba thích gì, ghét gì? Mẹ ưng gì, không ưa gì? Bình thường, những chuyện lẻ tẻ vậy không ai nói và chẳng ai để ý. Nhưng, giờ đây lại là lúc ai cũng muốn kể và lạ lùng sao, không ai cãi cả. Dường như nhu cầu kể và nhu cầu nghe tỷ lệ thuận với nhau. Chuyện kể thì cũ nên chuyện nghe thì không mới nhưng hề gì, nghe thêm, kể thêm lại càng hay, càng tốt. Tôi nghĩ, ba mẹ tôi linh thiêng, nằm trong mộ, nghe các con nhắc đến mình với cái tốt và có cả cái không tốt, chắc vui lắm.
Tôi cũng vui. Vui vì chợt nhận ra rằng, ba mẹ tôi mất đi nhưng sự mất mát to lớn ấy lại là sợi dây, gắn chị em tôi lại với nhau. Chị Hai nhìn ảnh ba trên bia, nói: “Ảnh ba mới nhìn thì thấy nghiêm trang nhưng nhìn kỹ lại thấy ba cười. Cười kín đáo và đẹp...”. Ảnh này ba tự đi chụp. Vốn là thợ nhiếp ảnh, ông muốn thể hiện mình theo ý riêng nên khiến anh chàng chụp ảnh loay hoay cả buổi: chụp vài kiểu, đưa lên computer để ông ngắm, chọn. Ông chưa gật đầu thì chụp lại. Cứ thế cho đến khi ông chọn được tấm ưng ý. Tội nghiệp anh chàng chụp ảnh, tốn thời gian, mất công sức nhưng không dám lộ ra mặt sự khó chịu và càng không dám lấy nhiều tiền. Đơn giản vì đó là ba tôi, một người được người dân ở đây coi như “tiền hiền” của khu này. Chọn được tấm ảnh vừa ý, ông cho rọi lớn, đem về nhà dặn đứa cháu nội: “Nhớ lấy ảnh này thờ ông nghe!”.
Phát hiện của chị Hai tôi không mới, ai cũng biết ngay từ lúc ba đem ảnh về nhưng lại chuyển câu chuyện sang một hướng khác...
2.Ba tôi, vừa nghệ sĩ vừa cần cù, chịu khó. Năm 1953, sau khi bị thương, ba tôi rời Vệ quốc đoàn về sống đời dân sự. Sau đó vài năm, ông mở tiệm chụp hình tại Tam Kỳ, lấy tên chị ba tôi đặt tên tiệm: Khánh Linh. Tiệm ảnh này nuôi gia đình tôi một thời gian dài - hình như đến giữa thập niên sáu mươi thế kỷ trước và sau khi kịp “đào tạo” vài ông thợ chụp ảnh khác - thấy không cạnh tranh nổi với thế hệ chụp ảnh trẻ trung mới, ba tôi giải nghệ. Ông chuyển sang công việc khác, nặng nhọc nhưng có lẽ thu nhập nhiều hơn, đủ để nuôi một gia đình mười người. Đó là nghề làm giấy tờ và đánh máy chữ thuê. Ngày nay, mỗi lần bắt gặp tấm bảng “Nhận đánh vi tính và soạn văn bản” tôi lại nhớ đến ba tôi da diết. Trong “gia tài” ông để lại, tôi còn giữ chiếc máy đánh chữ đã một thời nuôi sống gia đình tôi.
Có lẽ con đường Trần Cao Vân dẫn đến quận Tam Kỳ, nơi ký chứng thực mọi thứ giấy tờ liên quan đến nhân sinh, trước năm 1975, nên tại đây có một “khu phố đánh máy chữ thuê”? Ba tôi ngồi nhờ trước hiên nhà ông Nguyễn Cưu, đối diện với bưu điện Tam Kỳ cũ, cần mẫn mưu sinh. Nhà tôi, lúc bấy giờ, chưa ai làm ra một đồng tiền nào nên mọi thứ đều trông cậy vào trí óc và mười ngón tay của ông. Hồi đó, mỗi lần từ trường Trần Cao Vân về, tôi đều ghé vào đứng bên ông vài phút. Tôi biết đánh máy chữ, biết trình bày những loại giấy tờ và hiểu được những “ngón nghề” cũng nhờ ba tôi. Tiền bạc làm ra, ông nuôi gia đình và ký cóp để dành. Sau đó, gia đình tôi chung vốn với gia đình bạn của ba mẹ, mở một lò sản xuất cà rem. Công việc này ba tôi giao cho mẹ quản lý và mấy chị em tôi, trừ tôi, phụ giúp khi rảnh. Riêng tôi vẫn là thằng con trai lớn lêu lổng, ham vui với đám bạn, bù khú cà phê suốt ngày, chẳng giúp được việc gì cho nhà.
Nói là giao cho mẹ nhưng hầu như việc gì liên quan đến sản xuất cà rem, ba đều phải ra tay; từ việc mua nguyên liệu, bảo trì máy đến “đối ngoại”, giao dịch. Cuộc sống của gia đình tôi nhờ đó mà khá hẳn lên. Nhưng, chưa chịu dừng lại, dù bấy giờ đã bước sang tuổi ngũ tuần, ba tôi tổ chức thêm một công việc khác để “bù” vào những tháng mùa đông mưa lạnh, kinh doanh cà rem ế ẩm. Đó là mở lò bánh mì. Hồi đó, Tam Kỳ có năm bảy lò bánh mì, nổi tiếng nhất là bánh mì Đông Thành, nhà Trần Ngọc Dũng, bạn học tôi và lò bánh mì điện của Mai Hạc, bạn của ba mẹ tôi.
Một điều tôi lấy làm “kính nể” ba tôi là những công việc này hoàn toàn nằm ngoài “chuyên môn” của ông nhưng ông tự tin tiếp cận và không hề lúng túng khi xử lý những sự cố. Sau này, những dịp trò chuyện cùng ông, bài học ông truyền cho tôi lại rất đơn giản: Hãy sống tốt với mọi người và sẽ được mọi người giúp cho. Ngẫm lại cuộc đời của ông, quả thật, đó là bài học quý giá và sâu sắc cho tôi.
3.Sau bữa cúng giỗ đầu ba tôi, tôi ngồi một mình trong quán cà phê bình dân đối diện nhà. Buổi trưa và lại sau một trận mưa dầm, kéo dài từ sáng nên quán vắng vẻ, chỉ có mình tôi với anh chàng chủ quán. Xóm gia đình tôi ở suốt nửa thế kỷ qua đã thay đổi quá nhiều. Thế hệ của ba mẹ tôi nhìn lại chỉ còn đôi ba người. Thế hệ tôi thì “lưu lạc” khắp nơi. Bạn thơ ấu không còn mấy ai. Đặc biệt, nhiều cư dân mới xuất hiện. Họ đến mang theo cách sống mới, tăng thêm màu sắc cho một khu dân cư cũ nhưng đồng thời lấy đi của tôi và những người cố cựu ở đây một quá khứ êm đềm, xóa đi những hình ảnh mà tôi biết, chỉ còn là nét dần mờ của dĩ vãng.
Con đường trước mặt tôi đây, một thời gian dài, tôi đã đặt bàn chân bé nhỏ của mình trên đó. Nó dẫn tôi về trường tiểu học Vân Côi suốt mấy năm liền, nơi cho tôi những bài học làm người, hình thành những nền tảng nên tôi hiện nay.
Tam Kỳ như một người vừa trải qua cơn mê ngủ. Nó vội vã, tích cực một cách thái quá như muốn bù vào thời gian lãng phí trước đó nên chỗ nào cũng thấy dấu hiệu của chuyển động nhưng chưa có cái nào định hình. Tôi không biết Tam Kỳ sau này sẽ như thế nào nhưng cảm giác có gì đó chông chiêng trong lòng rất rõ. Do tôi quen sống với hoài niệm nên khó đón nhận sự thay đổi chăng? Không phải vậy! Cái cảm giác một đôi trai gái tổ chức đám cưới, đã có căn phòng riêng nhưng chưa có giường chiếu gì cả. Tất nhiên, họ có thể động phòng bằng cách nằm đất hay mua chiếc chiếu trải tạm cũng xong. Nhưng sau đó, họ sẽ cứ tiếc nuối, sao nỡ để đêm hoa chúc của mình diễn ra thiếu lãng mạn, thiếu ấn tượng đến vậy! Khập khiễng nhưng hình như na ná vậy.
Tôi yêu Tam Kỳ bằng tình yêu của một người sinh ra, lớn lên tại đây và chính nơi này đã để lại những dấu ấn của một thời sôi nổi vụng dại. Tình yêu của tôi, nụ hôn đầu của tôi và nỗi đắng cay, tuyệt vọng về tình người, về thói đời cũng như những ước vọng, niềm vui của đời người đều diễn ra tại đây nên mỗi lần về Tam Kỳ, tôi như chạm phải quá khứ, chạm đến những thiêng liêng trong sâu thẳm lòng mình. Tôi yêu Tam Kỳ bằng tình yêu của một con chiên dành cho kẻ chăn dắt tình thần nên tôi yêu luôn những ai làm đẹp nó. Bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn yêu Tam Kỳ bằng một tình yêu như thế và tôi biết rằng, khi cách xa nó, tình yêu ấy luôn sống mãi và lớn theo cùng thời gian. Nhưng, nếu chung sống với nó, tôi sẽ tuyệt vọng mà câm lặng vì những gì con người cố tình đổi thay nó nhưng không hiểu về nó, cho dù sự đổi thay đó làm bên ngoài thêm tráng lệ nhưng mất đi cái hồn của một Tam Kỳ chân chất đầm ấm; mộc mạc chân tình...
4.Tôi rời Tam Kỳ bằng đường bộ. Thục kiên nhẫn ngồi với tôi chờ xe đến, mặc tôi nằng nặc bảo không cần phải thế. Thục chỉ cười và khi xe lăn bánh, Thục mới vẫy tay, tạm biệt.
Tôi nằm dài, nhét headphone vào tai, giả vờ ngủ. Tôi thầm cám ơn anh chàng tài xế không mở tivi. Tôi muốn được yên lặng trên đường về lại Sài Gòn. Tâm trạng tôi ngổn ngang. “Không còn, không còn ai. Đường về ôi quá dài...” (Trịnh Công Sơn).
Tôi để lại Tam Kỳ một phần cuộc sống của mình. Một phần khác tôi bơ vơ, lạc lõng, trên đường về thành phố phương Nam...
LƯU VỸ BỬU
Mời các bạn xem trên: http://vybuuluu.blogspot.com
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340904

"Tôi là con chim
Đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi..." (Xuân Diệu)
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa | Su |
| 1 | ||||||
| 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
| 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 |
| 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 |
| 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 |
| 30 | 31 | |||||