TẢN MẠN NHÂN NGÀY THƠ

By LƯU VỸ BỬU


   1.Với tôi văn học nói chung thơ ca nói riêng là thánh đường. Thánh đường (hay nhiều người ví von là ngôi đền) vì nó có khả năng cứu rỗi con người. Thơ ca không phải tôn giáo hướng tới cực lạc thiên đường mà bản thân nó giúp con người giải thoát những ức chế những bế tắc những ràng buộc những hệ luỵ trong cuộc sống thường nhật.
   Với người khác quan niệm về thơ ca có thể khác. Chuyện đó cũng không có gì lạ! Người ta tuyên ngôn thơ ca vị nhân sinh thơ ca vị nghệ thuật. Tôi nghĩ đơn giản hơn: Thơ ca là phương tiện giúp tôi chuyển tải những cảm xúc và khi viết được một bài thơ tôi thấy lòng mình nhẹ hẳn đi (hoặc phơi phới lên). Những muộn phiền dường như vơi bớt và nếu có người đồng cảm chia sẻ thì muộn phiền ấy càng nhỏ bé. Có khi giúp tôi phấn chấn thấy yêu đời và trở nên lạc quan hơn... Vậy chẳng phải thơ ca đã cứu rỗi tôi rồi sao?
   Nhưng tiếc thay thánh đường của tôi đang bị những tín đồ của nó nhuộm màu son phấn tiền bạc. Không phải kẻ tà ma ngoại đạo nào quấy phá mà chính những người tự xưng là tín đồ đang vấy bẩn ngôi đền một cách có ý thức nhưng hình như với họ đó là điều bình thường (!?). Tôi vẫn làm thơ nhưng không bao giờ là nhà thơ cả! Tôi thích làm  "con chim ngứa cổ hót chơi" thôi. Nhưng tôi thấy buồn vì ngôi thánh đường của mình đã trở thành nơi họp chợ văn chương. Người ta khen nhau không tiếc lời và cũng không ngượng ngùng dù biết những lời khen đó là vờ vịt cốt để lấy lòng nhau...

   2.Tôi không rõ hiện nay nước ta có bao nhiêu nhà văn nhà thơ! Nhà văn nhà thơ trung ương nhà văn nhà thơ địa phương có lẽ lên đến con số vạn. Trong số đó có không ít nhà văn nhà thơ an nhiên toạ hưởng tiền đóng thuế của nhân dân. Đã vậy họ - nhất là những nhà văn nhà thơ quan chức - còn tìm cách bòn rút tìm cách xoay xở kiếm thêm từ ngân sách lợi dụng "hào quang" của thánh đường mà bằng cách này cách khác kể cả hạ cấp để có tiền.
   Tôi cũng không rõ các nhà văn nhà thơ ở Trung quốc Triều Tiên Cu Ba có được bầu sữa ngân sách nuôi dưỡng bảo bọc không chứ ở nước ta tiền đóng thuế của nhân dân được trích ra để trả lương trả thưởng và để chi phí cho các quan nhà văn quan nhà thơ yên tâm sáng tác! Trên thế giới chắc chỉ có vài ba nước (trong đó có Việt Nam) trả lương cho các nhà văn nhà thơ. Và nói trộm có phải vì thế nên văn chương èo uột?
   Nếu ai đó chịu khó làm một phép tính cộng xem từ trung ương đến địa phương tổng số tiền chi cho các nhà văn nhà thơ mỗi năm là bao nhiêu và tiền đầu tư đó mang lại hiệu quả gì (ở đây là tác phẩm) cho xã hội?
   Không chỉ tiền lương (hay tiền công sáng tác (!?) cho các nhà văn nhà thơ) ngân sách còn chi thêm những khoản đột xuất khác. Và không ít nhà văn nhà thơ nhận tiền theo hợp đồng đặt hàng nhưng cuối cùng chẳng có sản phẩm nào giao nộp. Vậy mà họ chẳng chút băn khoăn về việc tiền thì lấy rồi mà sản phẩm thì không có vì biết chẳng ai bắt đền tội vi phạm hợp đồng và chẳng ai thu hồi. Đồng tiền này xem ra chẳng khác gì chuyện "bắc thang lên hỏi ông trời...".
   Tôi cũng được biết có những nhà thơ nhà văn hưởng chế độ chính sách đàng hoàng như vẫn kêu ca khó khăn để rồi mãn nguyện nhận tiền trợ cấp của ngân sách mặc dù  biết rằng so với những đồng nghiệp mình còn giàu có nhiều lần hơn. Họ ngửa tay nhận mà chẳng chút tự trọng xấu hổ với bạn bè với những người lam lũ đóng thuế nuôi họ!
   Trước đây tôi được nghe "một nhà" có chức sắc kể giai thoại về một số nhà văn nhà thơ thuộc hạng cây đa cây đề trong nền văn học nước nhà. Giai thoại kể rằng họ rủ nhau đi thực tế xuống đọc thơ nói chuyện thơ cho bà con nông dân ở một hợp tác xã nông nghiệp nghe. Ban chủ nhiệm nghe nói có đoàn nhà thơ nhà văn trung ương xuống mừng quá liền tập họp xã viên lại. Mặt khác họ không quên lo chuyện "hậu cần" tươm tất để chiêu đãi. "Khách ba chủ nhà bảy" rượu thịt ê hề chén chú chén anh khật khưỡng. Chỉ tội bà con xã viên mùa này mất vô số công điểm vào đêm nghe thơ. Nghe kể mà lòng tôi không khỏi băn khoăn: Chuyện thực như vậy ư? Mong sao chỉ là... giai thoại cho khỏi... tủi thân!

   3.Bây giờ người ta khoái danh xưng "nhà văn nhà thơ" dù sáng tác của họ chẳng mấy ai biết mấy ai đọc. Nhiều lần tôi được nghe người ta "tự giới thiệu": "Tôi là nhà văn..." mà lấy làm sợ hãi! Tôi cũng từng nhận được giấy mời gọi tôi cũng với danh xưng như vậy. Tôi vội vã thanh minh vì biết rõ mình không đủ tài năng đức độ để trở thành nhà văn nhà thơ. Có phải cái "mác" nhà văn nhà thơ bây giờ cũng giống như... cần câu có thể câu được cá có thể câu được danh vọng lợi lộc nên người ta khoái?
   Có dạo dư luận phải lên tiếng vì đi đâu cũng gặp ca sĩ đi đâu cũng gặp nhạc sĩ. Hễ một lần hát đám cưới cũng được phong (hay tự phong) ca sĩ. Viết một bản nhạc nhăng nhít chẳng ra làm sao cũng được gọi là nhạc sĩ. Đó là chưa kể "ngôi sao" "thần tượng" đầy dẫy vàng thau lẫn lộn. Lĩnh vực văn học cũng vậy cứ có bài thơ bài văn làng nhàng đăng trên báo địa phương thì được vận động làm đơn xin vào hội và đương nhiên được gọi là nhà văn nhà thơ. "Nhà" thì nhiều nhưng chẳng có nhà nào hữu ích cho xã hội cả!
   Cách đây gần 40 năm chúng tôi say mê tổ chức những đêm đọc thơ hát nhạc cho nhau nghe. Mọi chuyện đều tự lo từ cà phê đến hoa hồng. Chẳng cơ quan nào tài trợ và cũng chẳng ai xưng nhà này nhà kia. Tất cả không ngoài hai chữ đam mê văn chương mà làm. Hồi đó chúng tôi không quan tâm đến hội này hội kia và các tổ chức đó chẳng liên quan gì đến lòng đam mê văn chương của chúng tôi.
   Thơ ca không đi đôi với lễ lạc. Thơ ca không đi chung với nghi thức. Thơ ca xa lạ với hội đoàn tiền bạc. Tôi nghĩ vậy và vô cùng ngưỡng mộ các bút nhóm các thi văn đoàn khắp nơi đã vượt lên cái tầm thường dung tục... mà sống trọn vẹn với thơ ca.

LƯU VỸ BỬU

More...

CHIỀU 29 THÁNG CHẠP NGHĨ MÔNG LUNG...

By LƯU VỸ BỬU


Nhân dịp năm mới kính chúc MẸ ANH CHỊ EM & BẠN BÈ THÂN HỮU
AN LẠC VÀ MAY MẮN.


 

1.

   Có những bài thơ (đoạn thơ) muốn quên cũng không sao quên được!
   Bài "Lời mẹ dặn" của nhà thơ Phùng Quán là một trong những bài thơ tôi biết từ thuở ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Đến nay đã ngoài 40 năm nhiều thứ cố nhớ cũng không nhớ được nhưng riêng đoạn thơ: "... Người làm xiếc đi dây rất khó.... Dù ai cầm dao dọa giết; Cũng không nói ghét thành yêu..." thì mãi không quên được.
  Tôi biết để đi được trên sợi dây bé nhỏ người làm xiếc phải trải qua thời gian dài tập luyện khó khăn. Tôi cũng không phải là nhà văn để có thể hiểu tại sao cần phải "trọn đời đi trên con đường chân thật". Tôi chỉ hiểu đơn giản rằng mẹ của nhà thơ Phùng Quán đã dặn ông sống chân thật. Mẹ tôi một phụ nữ bình thường cũng dạy tôi phải sống chân thật. Tôi kính yêu bà nên vâng lời bà "suốt đời chân thật".
   Tôi cũng nhiều lần nói dối vô tình có mà cố ý cũng có nhưng tôi tin rằng những lời nói dối của mình không hại ai không xúc phạm ai và cũng không để tự mình phải hổ thẹn vì lời nói dối ấy. Tôi cũng có những người bạn những người thân quen sống chân thành đến mức như một nhà tu đạo hạnh luôn nhận lấy những thiệt thòi những điều tiếng về mình mà nhường phần tốt đẹp cho người khác. Chính họ là những tấm gương soi của tôi là những "lời mẹ dặn" khác trong đời tôi.

2.

   Khi tôi viết những dòng chữ này thì ngoài kia mặt trời bắt đầu hắt những tia nắng cuối ngày trên tầng cao chót vót của chung cư. Chiều đang xuống và đêm đang lên. Bây giờ đã là 29 tháng Chạp chỉ còn hơn 1 ngày nữa là hết năm Canh Dần. Tự nhiên cái cảm giác muốn níu kéo thời gian lại cứ trào lên trong lòng dù năm nay không phải là năm may mắn của tôi. Chẳng qua tôi sợ thời gian trôi. Tôi sợ năm mới đến khi trong lòng chưa sẵn sàng đón nhận nó.
   Có lẽ một khi con người ấp ủ ước mơ nhiều nhưng đến lúc năm cùng tháng tận nhận thấy mình chưa đạt được một mảy may nào của ước vọng ấy tự nhiên đâm ra sợ hãi. Nói đúng hơn tôi thất vọng về mình; tôi mất niềm tin vào mình. Tôi mơ hồ nhận thấy sự cô đơn bủa vây và những đoá mai vàng nở sớm ngoài hiên nhà như trêu ngươi như cười cợt mình!
   Sống là một chọn lựa! Ai cũng có quyền chọn cho mình một cuộc sống nhưng có đạt được mục đích hay không lại tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác chủ quan có khách quan có. Nhưng tôi lại tin rằng chính bản ngã quyết định phần lớn cuộc sống của chính mình. Tôi lắm khi mềm như cỏ dại nên hầu như ít có thành công. Tuy vậy tôi hài lòng về mình vì tôi không thể sống khác được. Chị Thọ con cô Sáu tôi lúc tôi 16 tuổi gửi tặng tấm thiệp khi mấy chữ đại ý khuyên tôi đừng nên khắc kỷ với tha nhân. Tôi trả lời chị: "Em sẽ cố khắc kỷ với mình độ lượng với người".
   Cuối năm thường người ta nhớ về quá khứ. Tôi cũng vậy! Năm nay nhận lời mời của bạn tôi quyết định lên tây nguyên ăn tết. Rảnh rỗi không bận bịu sắm sanh tết ngồi bần thần nhìn người ngược xuôi hay lang thang nhìn người ta trưng bày hoa tết tôi cứ nhớ về Tam Kỳ...

3.

   Thôi tôi dỗ dành mình đừng nhớ nhung nữa. Năm hết là điều không thể khác. Tết đến là chuyện phải có! Hãy rũ sạch bụi bặm cũ càng để dọn mình đón xuân mới. Hoa tươi với những ai ghé môi cười với nó.
   Tôi mỉm cười một mình. Nắng đã tắt nhưng dòng người vẫn cứ xuôi ngược. Tôi nhận ra bên trong cái tất bật nhọc nhằn là niềm lạc quan hy vọng đón chào năm mới. Tôi tin mình sẽ được nhận những hạnh ngộ những ân sũng từ cuộc đời này.

LƯU VỸ BỬU
(29 tháng Chạp Canh Dần)


More...

CAO BẰNG: TÌNH QUÊ CAO VỜI VỢI

By LƯU VỸ BỬU


  
Thác Bản Giốc Cao Bằng

      1.Rời Ba Bể khi nắng thu chưa kịp trải vàng hết những núi đồi xanh. Xa xa các bản làng người Tày người Nùng nép mình dưới những bóng cây xanh thẫm. Ba Bể đẹp não nùng. Vẻ đẹp nguyên sơ hùng vĩ nhưng sao tôi cứ nhận thấy vẻ man mác u hoài ẩn đằng sau cứ bàng bạc trong lòng. Cảm giác này giống như tối qua khi nghe các cô gái bản Pác Ngòi ôm đàn tính hát những làn điệu dân ca Tày ca ngợi bản làng đổi mới. Lời vui người hát cười duyên nhưng sao giai điệu cứ trầm trầm buồn buồn làm người nghe nặng trĩu cả lòng. Tại cây đàn tính hay do làn điệu nó vốn thế? Tôi không hiểu thực sự không hiểu được! Nhưng tối hôm đó trong phòng khách sạn tôi chong đèn vì không ngủ được những con bướm ăn đêm thấy ánh sáng bay vào chấp chới cánh cứ khiến tôi nghĩ đến một thiên thai nào đó đang diễn ra trong đời thực này.
      Ba Bể với tôi không chỉ là địa danh một địa điểm du lịch một thắng cảnh mà còn là một huyền thoại một câu chuyện đầy thơ mộng ẩn khuất sau sóng nước xanh sau những núi đồi chập chùng kia chờ tôi khám phá. Cảm giác này y nguyên cảm giác lần đầu tiên đến Đà Lạt khi Đà Lạt vẫn còn là thành phố sương mù thành phố của các cô học trò Bùi Thị Xuân e ấp trong chiếc áo dài đi về theo những con dốc khoác áo len chiếc foulard mềm mại hững hờ ngang vai để những chàng trai mới lớn như chúng tôi đắm đuối trông theo. Ba Bể lúc này đã khiến tôi một gã cũng hết thời trung niên đang ngẩn ngơ tiếc nuối một cái gì không rõ thuộc về thời đã qua đang trỗi dậy. Tôi muốn giữ lấy muốn đi sâu vào từng góc cạnh của nó để tìm lại chính mình.

      2.Đêm Cao Bằng ngủ sớm. Đoàn khách từ phương Nam dường như lạc lõng giữa phố cao biên giới này. Trời mưa lất phất đường phố vắng vẻ dù chưa đến 8 giờ tối. Loay hoay mãi mà vẫn chưa tìm ra được một chỗ nào đó để chiêm ngưỡng mảnh đất quen tên nhưng lần đầu đặt chân đến này. Hỏi các cô gái chàng trai ở khách sạn Bằng Giang thì nhận được những câu trả lời nhát gừng. Những người trong đoàn một phần do mệt mỏi của chuyến đi dài hơn 130 cây số từ Bắc Kạn qua một phần do mưa ẩm ướt đã chọn cách ở trong khách sạn. Tôi và Diệm Thục ghé vào quán cà phê có màn hình ti vi dành cho những ai muốn hát karaoke. Quán cũng không có ai. Diệm gọi một chai rượu ngô một đĩa hạt dẻ nướng. Tôi kêu ly trà ngồi nhìn ra ngoài phố. Đèn vàng ảm đạm những người lỡ mưa bước vội trên hè phố. Đêm Cao Bằng có vẻ yên tĩnh và mang đậm nét một phố huyện chưa quen với những sinh hoạt về đêm. Hình dung của tôi về Cao Bằng khác hẳn những gì trông thấy. Cao Bằng trước mắt tôi to đẹp và ra dáng một đô thị; còn trong hình dung của tôi Cao Bằng như một thị trấn nằm nép mình bên những dãy núi xanh thân mật và bình yên.
      Ở Cao Bằng tôi được mời nếm thử món bánh cuốn. Ngon và cách ăn lạ nhưng tôi thích hai món khác: một là hạt dẻ nướng; hai là thịt heo luộc ăn với rau sống. Có điều người dân ở chợ Trùng Khánh cũng đã quen cách buôn bán với khách du lịch. Họ cũng nói thách cũng đáo để trả treo với khách chẳng kém mấy cô gái ở chợ Bến Thành. Còn ở thác Bản Giốc tôi được chiêu đãi món thịt heo bản vừa thơm vừa ngon có khi ngon hơn cả thịt heo ở Hiệp Đức Quảng Nam.

      3.Tôi biết thác Bản Giốc đã lâu tất nhiên qua sách vở trên truyền hình và trên cả những tờ lịch bày bán mỗi khi xuân về. Dù đã chuẩn bị tâm lý và anh chàng hướng dẫn viên vui tính nhiều lời cũng đã "nhắc nhớ" trước nhưng khi đối diện với thác Bản Giốc tôi cũng nghe bùi ngùi trong lòng. Mưa vẫn lất phất không đủ để ướt áo nhưng cũng làm mờ đi tầm nhìn. Những hạt mưa đọng lại trên mắt kính khiến tôi nhìn thác Bản Giốc bằng đôi mắt nhoà lệ. Một nửa thác đã thuộc về Trung Quốc éo le thay đó lại là phần đẹp nhất của thác. Chúng ta còn lại nguyên thác phụ và một phần thác chính. Nghĩa là từ nay trên các tờ lịch chụp phong cảnh đẹp của nước ta không thể có thác Bản Giốc nữa rồi. Hoặc nếu luyến tiếc một cảnh đẹp thì các nhà sản xuất cũng phải chú thích rõ chủ quyền của mỗi nước nếu không muốn bị đưa ra toà vì tội "xâm phạm lãnh thổ" (!?).
      Những người chèo tạm gọi là chống bè (tôi không biết gọi chính xác tên phương tiện là gì. Nó không giống cái bè cũng chẳng giống thuyền ghe) phục vụ du khách vượt qua thác để đến cột mốc chủ quyền. Cột mốc có số hiệu 836 (02). Nhiều người vây lấy cột mốc chụp hình kỷ niệm một lần đến tận biên giới nước ta thuộc tỉnh Cao Bằng và trong số họ không ít người thở dài bùi ngùi khi tình cảm thiêng liêng vốn có trỗi dậy trong lòng. Cảm xúc này còn gặp lại sau đó vài ngày ở cột mốc Hữu nghị quan cột mốc số 1116 Lạng Sơn và ngay ở cột cây số Hữu nghị. "Tôi yêu đất nước tôi từ khi mới sinh ra đời...". Thác Bản Giốc không biết vì mưa bụi hay chỉ còn một nửa mà vẻ đẹp hùng vĩ  của nó dường như phôi phai ít nhiều. Kỷ niệm lần đầu chạm mặt với Bản Giốc để lại trong tôi những tâm thế ngổn ngang...
      Rời Bản Giốc chúng tôi qua động Ngườm Ngao tiếng địa phương có nghĩa là Hang Hổ. Con động dài khá đẹp. Đặc biệt có hình hoa sen nở ngược kỳ lạ.
      Hai ngày ở Cao Bằng không đủ để hiểu và nói gì về thị xã cũng như tỉnh miền núi biên thuỳ này. Cái cảm xúc lớn nhất đọng lại trong tôi khi chuyến xe rời khỏi Cao Bằng và khi về lại Sài Gòn là tình quê cứ chực chờ trào dâng đọng lại trên đôi mắt...

LƯU VỸ BỬU


More...

ĐAO TO BÚA LỚN HOA SỮA VÀ...

By LƯU VỸ BỬU

      1.Thói quen dùng những từ ngữ "đầy ấn tượng" thay cho cách diễn đạt bình thường đang trở thành... dịch bệnh lây lan rất nhanh. Bắt đầu từ các văn bản mang tính chỉ đạo đến các cơ quan thông tấn báo chí rồi ảnh hưởng luôn đến các blog cá nhân. Ví dụ như các diễn văn của những người giữ chức vụ lớn của các cấp luôn được gắn thêm từ "quan trọng" vào sau từ diễn văn (đồng chí bí thư chủ tịch đọc diễn văn quan trọng) nhưng thực ra sau khi nghe (hay đọc) thấy chẳng có gì để gọi là... quan trọng cả. Cũng những từ ngữ "thành công  tốt đẹp" "thắng lợi rực rỡ" "phát triển vượt bậc"... (mà không ai đánh giá được mức độ "tốt đẹp rực rỡ..." ấy cụ thể thế nào). "Diễn văn quan trọng" ấy có khi chỉ "quan trọng" trong một góc hẹp nào đó thôi. Ngược lại thông điệp của người đứng đầu một cường quốc nào đó được cả thế giới lắng nghe theo dõi vì có khả năng tác động tới thì lại thông tin sơ sài. Trong cuộc họp chi bộ có bí thư đảng uỷ tham dự đóng góp ý kiến cũng được "lên gân": "Đồng chí bí thư đảng uỷ đã có những ý kiến quan trọng...". Ý kiến được cho là quan trọng ở đây cũng là những điều ai cũng biết ai cũng nghĩ ra cả! Suy cho cùng gọi như vậy để... nịnh là chính.
      Cũng như cách người ta gọi kẻ ăn cắp là "cố ý làm trái" gọi kẻ bất tài không làm được việc là "khả năng hạn chế" gọi kẻ tham ô lãng phí là "thiếu tinh thần trách nhiệm" ... Thói quen dùng từ "đao to búa lớn" để ca ngợi hay vùi dập một ai đó thể hiện tính xu nịnh hay "bắt chước" chứ thực chất nhiều khi nội dung tải trong đó còn ngược lại với suy nghĩ của chính họ. Tỉnh nói "quan trọng" thì huyện xã cũng phải nói "quan trọng" chứ không thể nói khác được. Có lần tranh luận với số đồng nghiệp về một câu khẩu hiệu mà ai cũng thấy câu này có thể sửa lại đơn giản và gọn ghẽ hơn nhưng chẳng ai dám sửa hay đề nghị sửa. Một người nói: "Do ở trên đưa xuống" nhằm kết thúc tranh luận.
      Thời gian vừa qua nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội cụm từ  "4000 năm văn hiến" cũng được nhắc đến nhiều nhưng tôi nhớ cách đây 50-60 năm và trước đó nhiều hơn thế nữa đã nghe nói đến "4000 năm văn hiến". Ai cũng nói từ lãnh đạo đến tổ dân phố từ các nhà sử học đến các cơ quan tuyên truyền nhưng không ai biết đất nước ta chính xác đã bao nhiêu năm văn hiến rồi. Cứ "4000 năm..." như thế mà phát ngôn như... mở băng ghi âm ra phát lại (!?).
      Người bạn tôi mở blog để "giao lưu văn nghệ" viết lời chào (hay slogan nhỉ?): "Ghi chép những trải nghiệm". Tôi vào đọc thì thấy hầu hết là thơ tình liền ghẹo: "Trải nghiệm tình à?". Bạn tôi cười trừ và... sửa lại thành "Ghi chép buồn vui" rồi sau đó là "Thích chi viết nấy"  nghe đơn giản và thấm vào lòng người liền.
      Theo tôi cứ gọi đúng bản chất sự việc cứ gọi đúng tên sẽ dễ nghe và... dễ hiểu hơn.

      2.Vừa rồi tôi về quê. Ngồi nghe những "sĩ phu" quê nhà bình luận chuyện thời sự. Trong vô số chuyện to có nhỏ có đáng lưu tâm có và thuộc loại "nghe qua rồi bỏ cũng có; có một chuyện liên quan đến một loại hoa. Đó là hoa sữa! Ở Hà Nội câu hát "Phố Quang Trung đường Nguyễn Du những đêm hoa sữa thơm nồng..." (Hoàng Hiệp) nghe lãng mạn tha thiết vô cùng. Bài hát này đã "tác động" đến tình cảm của những người yêu Hà Nội và hoa sữa được coi như một biểu tượng thanh tao quyến rũ của tình yêu thơ mộng. Có lẽ vì vậy mà thời gian vừa qua Tam Kỳ mang hoa sữa về trồng khá nhiều nhất là đường Huỳnh Thúc Kháng Phan Chu Trinh Hùng Vương... Lúc mới trồng thì ai đi ngang qua cũng nhìn với cặp mắt "ngưỡng mộ" mong ngóng một ngày cây sẽ cho hoa để đêm đêm "hoa sữa thơm nồng" khác gì Hà Nội! Rồi cuối cùng cây cũng cho hoa và khi hoa nở cả khu phố mới... bàng hoàng vì mùi hoa sữa. Người này thì kêu: "Nhức đầu quá đi!"; người kia thì lầm bầm: "Thúi không chịu nổi!"; người nọ than: "mùi gì ngửi không vô!". Thế là một đề nghị được đưa lên: "Yêu cầu chặt bỏ hoa sữa!". Lãnh đạo cũng "thấm đòn" mùi "hoa sữa thơm nồng" nên quyết định chặt bỏ.
      Hoa sữa cũng theo những "tâm hồn lãng mạn" vào đến miền Nam. Người bạn của tôi kể: "Lần đầu tiên được cầm một chùm hoa sữa và không dám... cầm lâu quăng liền không tiếc...". Từ thơ đến đời đúng là có một khoảng cách. Hoa sữa Hà Nội đến Tam Kỳ là chặng đường dài hơn 900 cây số đến tận miền Nam là gần 2000 km đã trở thành "đại họa". Và câu hát "hoa sữa thơm nồng" e rằng cũng bị mất đi chút... hương hoa quyến rũ.
      Cái "rập khuôn" bắt chước đã mang phiền nhiễu đến người dân. Đâu phải cái gì ở người ta hay người ta đẹp là cũng "hay" cũng "đẹp" với mình! Chính thói quen "làm theo" chẳng cần suy nghĩ đã làm hao tổn công sức người dân nhưng mấy ai hiểu được.
      Nghe đâu để "cứu một bàn thua" Tam Kỳ đang thay hoa sữa bằng một loại cây cũng được xem là đặc trưng của Tam Kỳ: cây sưa. Hồi còn trai trẻ tôi và bạn bè cũng như nhiều thế hệ khác không ai không một lần đặt chân đến rừng cừa. Gọi là rừng nhưng thực ra đó là con đường xuống phường một (bây giờ thuộc phường Hoà Hương) trồng nhiều cây sưa. Tôi nhớ ngay vườn nhãn gần sân vận động cũ (bây giờ không còn nữa) cũng có nhiều cây sưa. Sưa ra hoa màu vàng li ti rất đẹp. Nhưng mùa sưa trổ bông lại là mùa con người hay mệt mỏi lưởi ưởi nhất giống như bệnh thời khí vậy! Tôi không đủ kiến thức để đồng tình hay phản đối việc trồng cây sưa thay cây hoa sữa nhưng thấy chủ trương bắt người dân đóng góp tiền mua cây sưa để trồng nghe không ổn chút nào. Cái suy nghĩ muốn "lưu danh thiên cổ" hình như luôn hiện diện trong tâm trí những người lãnh đạo các cấp. Nhưng "phải có danh gì với núi sông" bằng tài năng trí tuệ của mình chứ "lưu danh" theo kiểu copy cut paste từ nơi này nơi kia về nơi mình hay bất chấp quy luật cứ dùng mệnh lệnh để thực thi cho bằng được điều mình muốn quả là điều đại họa (!?).

      3. "Một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội" không chỉ Hà Nội tổ chức mà hầu như cả nước đều làm. Và không phải diễn ra trong một tuần lễ mà làm từ nhiều năm trước. Từ tỉnh này đến thành phố kia; từ huyện này đến thị xã nọ; từ ngành này đến ngành khác đều cũng cố "gắn" cái mác "ngàn năm TL-HN" vào như thể nếu không có nó thì không tổ chức được vậy (!). Ngày Thơ Việt Nam địa phương nào cũng mang chủ đề "ngàn năm TL-HN" nhưng loay hoay cũng mấy bài thơ quen thuộc mở đầu "cho phải phép" rồi sau đó thì... thơ gì cũng được. Ngay cuộc thi nhan sắc tổ chức ở Quảng Ninh cũng là để "chào mừng 1000 năm TL-HN" cũng đủ để nói lên rằng chúng ta đã quen sống với hình thức quen với kiểu cách giả tạo và vẫn còn... cũ kỹ lạc hậu trong khi thế giới người ta đã đi rất sâu vào thực chất lấy việc phụng sự xã hội làm mục tiêu. Còn ở ta sau khi kết thúc lễ hội thì quanh hồ Gươm lại biến thành bãi rác khổng lồ. Những đường hoa mới đẹp đẽ đó đã vội tả tơi vụn vỡ dưới bàn tay con người. Hà Nội ngàn năm văn vật nếu chúng ta không gìn giữ không vun đắp thì chừng vài chục năm nữa khi những người từng gắn bó từng chứng kiến "Hà Nội trải qua những thăng trầm mà vẫn giữ được vẻ thanh lịch" không còn nữa thì lúc đó Hà Nội cũng chỉ là một đô thị một phố chợ - có thể sẽ phồn vinh - như những thành phố khác trong nước trên thế giới mà thôi.
      Tôi chợt nhớ đến câu hỏi đầy nỗi niềm: "Nếu không còn hồ Gươm hồ Tây thì Hà Nội sẽ ra sao?". Tôi muốn viết thêm ý này: "Nếu mất đi vẻ thanh lịch hào hoa thì Hà Nội sẽ ra sao?". Mỗi ngày chúng ta đón nhận thêm một công trình mới mẻ minh chứng cho sự phát triển. Đó là điều đáng mừng! Nhưng đáng mừng hơn là kho tàng văn hoá mà tiền nhân dày công vun xới không bị mai một theo từng giờ từng ngày.

LƯU VỸ BỬU

More...

TAM KỲ NGÀY VỀ

By LƯU VỸ BỬU

        1.Tam Kỳ đón tôi bằng những trận mưa như trút nước. Mưa nặng hạt và dai dẳng rất khó chịu. Anh chàng tài xế tắc xi chia sẻ: "Đoạn này như vậy là tốt rồi. Khu ngoài tỉnh nước ngập nặng lắm đến tắc xi cũng không chạy được!". Tôi cười buồn nghĩ đến những ngày sắp đến nếu cứ mưa như thế này thì việc tổ chức cúng mãn tang ba tôi khó trọn vẹn như ý. Những khu dân cư được quy hoạch xẻ ngang xẻ dọc ngổn ngang đất đá cỏ cây lúp xúp và nước đọng thành ao thành hồ. Không biết người ta quy hoạch như thế nào nhưng người dân bình thường chẳng chút kinh nghiệm chuyên môn nhìn thực trạng cũng lắc đầu ngán ngẩm: "Chỉ cần vài năm nữa sẽ trở thành những khu ổ chuột và ... kẹt xe!".
Quả thật những con đường "be bé xinh xinh" nơi trải nhựa nơi bê tông giao cắt  nhau như bàn cờ... tướng; xe vừa nhấc ga thì đã vội vàng buông ra và thắng gấp vì đã đến giao lộ. Có lẽ để nhanh chóng "đạt chuẩn" đô thị loại 3 nên Tam Kỳ đẩy mạnh việc mở đường thành lập các khu dân cư bất chấp quy luật cũng như khả năng vốn có. Lần trước về Tam Kỳ tôi được người bạn đưa đi xem những ngả tư... cụt. Nghĩa là cũng một ngả tư nhưng chỉ đi được 3 hướng; một nhánh còn lại chỉ là ngõ cụt (!). Nhưng bi kịch nhất là hệ thống thoát nước. Có nơi cống xả thấp hơn hồ chứa nên thay vì xả nước thì biến thành cống ngăn nước từ ngòai tràn vào. Còn hệ thống cống nước trên đường Phan Chu Trinh đoạn từ nhà thờ Tin Lành vào tới Kênh Hạnh nhuộm (tức kênh N4(?)) làm từng khúc rồi để đó chẳng nối được với nhau nên mỗi khi mưa xuống thì nước từ cống nếu không trào ra đường thì cũng chảy ngược vào nhà dân...

2.May mắn mưa cũng tạnh. Chiều hôm đó bạn bè biết tôi về rủ nhau đến quán cà phê Nguyên Hương trên đường Tôn Đức Thắng. Quán thiết kế khá xinh xắn cà phê không ngon lắm nhưng bù lại nhạc nghe được và góc nhìn khá đẹp. Ngồi với bạn bè ở quê tôi phát hiện ra một chi tiết thú vị: Nếu bạn bè ở Sài Gòn gặp nhau thường nhắc đến chuyện cũ chuyện hồi đi học hay chuyện quê nhà; còn bạn bè ở Tam Kỳ gặp nhau lại nói chuyện... thời sự. Đại hội tỉnh đảng bộ vừa xong thông tin ai trúng ban chấp hành ai rớt ai "cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng" ai trúng thường vụ và ai thuộc "vậy mà cũng trúng" cứ râm ran suốt buổi cà phê. Tôi ngồi nghe thi thoảng góp ý chứ xa quê lâu ngày nhớ chẳng bao nhiêu mà biết lại càng ít ỏi. Những cái tên lướt qua trí nhớ có khi gợi lên một cái gì xa xưa không hình thù; có khi như một cái gì đó xa lạ. Nhưng tôi dù không muốn phá vỡ không khí êm đềm của một buổi chiều mùa thu mưa vừa tạnh trời vừa hửng nắng quanh bạn bè thân thiết nhưng cũng phải thở dài khi nghe thông tin cậu O. một nhân viên cũ trước đây đã không nghe lời tôi khuyên nên đi học thêm vì văn hóa còn quá thấp nay đã có bằng đại học dù thời gian đi học có thể đếm trên đầu ngón tay (!). Một cậu khác lấy bằng tốt nghiệp bổ túc văn hóa và bằng đại học trong vòng 3 năm (?). Bạn tôi quả quyết bằng của họ là bằng thật. Tôi cũng không nghi ngờ gì về điều đó nhưng cũng khẳng định họ học không thật. Nếu có ai đó cắc cớ kiểm tra kiến thức chắc chắn họ sẽ mỉm cười vì cái bằng và kiến thức không "đi đôi" với nhau. Một người bạn khác "can thiệp" nhằm ngăn chặn cái thở dài của tôi: "Đâu chỉ có những người này! Ngay ở Sài Gòn tớ cũng tin rằng nhiều vị có bằng cử nhân thạc sĩ hẳn hòi nhưng không làm được phép tính khối lượng. Điển hình là các "hố đen" trên đường đó. Một cái hố nguời ta không tìm ra được cần bao nhiêu mét khối cát đá để lấp cho đầy khiến xe phải sụp hầm sụp hang   chẳng phải ư?" (!?).

3.Trời không phụ gia đình tôi. Nắng đẹp bà con họ hàng và bạn bè của gia đình tôi tới dự lễ mãn tang ba tôi rất đông ngoài dự kiến của anh chị em tôi. Đã hai năm ba tôi đi xa nhưng anh chị em tôi vẫn chưa "quen" với thực tế chưa nguôi quên cảm giác thiếu vắng ông. Tôi tin rằng không chỉ anh chị em tôi cảm nhận được mà bất kỳ ai khi vắng cha vắng mẹ đều có chung nỗi niềm này. Dẫu ba tôi trong những năm cuối đời cũng không phải là người quyết định mọi điều liên quan đến chúng tôi nhưng có ông ngồi đó nghe chúng tôi bàn bạc thảo luận... thâm tâm anh chị em tôi vẫn thấy yên lòng. Nay không còn ông cảm giác trống vắng không ngừng lan rộng tạo nên một khoảng không khiến anh chị em tôi hụt hẫng. Phải nói ba tôi mất đi như nhiều người cha khác chúng tôi mất đi một chỗ dựa một chỗ về và đặc biệt là cảm giác sợi dây liên kết giữa anh chị em tôi giữa gia đình tôi với bà con họ hàng giữa thế hệ ba tôi vời những thế hệ sau đó dường như bị đứt đi; hoặc bị đe dọa đứt đi... Vì thế nhìn bà con từ Hội An từ Đà Nẵng vào lòng tôi rưng rưng. Cả cuộc đời ba tôi ngoài việc mưu sinh nuôi 8 chị em tôi ông dành thời gian lo cho cả dòng họ mà ông là người được coi là trưởng tộc của đời thứ 19. Ông đi tìm bà con thất lạc trong chiến tranh truy tìm nguồn cội quy tập trùng tu mồ mả ông bà tổ tiên. Công việc thầm lặng ấy được ông toàn tâm toàn ý nhất là thời gian cuối đời để lo toan nên khi ông mất đi nhiều cô chú tôi đã phải lo lắng là không còn ai kế thừa công việc vốn dĩ phức tạp và đòi hỏi sự kiên trì bền bỉ này...

4.Vài ngày nữa tôi về lại Sài Gòn mang theo những nỗi niềm nặng trĩu trong lòng. Tam Kỳ bây giờ thay đổi nhiều. Cuộc sống nhìn từ bên ngoài thấy đầy màu sắc và âm thanh nhưng phía sau nó là những nốt nhạc trầm buồn bã là những gam màu xám xịt đến não lòng. Phía sau nhà ba tôi trước đây là những cánh đồng bạc màu nhưng là nguồn sống của nhiều gia đình. Giờ đây nó đã biến thành những ô vuông nhỏ bé là nơi ở mới của những người khác. Những ngôi nhà đang mọc lên cao thấp nhấp nhô thụt vào thụt ra tùy hoàn cảnh sở thích của từng gia đình. Tam Kỳ đang và sẽ có những cao ốc những khu dân cư mới... những tiêu biểu cho một đô thị hiện đại nhưng có đi sâu vào từng ngóc ngách mới thấy sự phồn vinh đó không được xây dựng trên nền tảng vững chắc. Một cái gì đó khiến người ta cảm nhận sự tạm bợ chênh vênh trong đó. Những quán cà phê mở dọc theo các tuyến đường mới mở. Các quán nhậu cũng phát triển theo. Tất cả vừa gợi lên sự ồn ào náo nhiệt của một đô thị nhưng đồng thời lộ rõ một cuộc sống đầy rủi may bất trắc. Tam Kỳ của tôi đã phôi phai nhiều. Cái hồn của thị xã nhỏ bé dễ thương này đang bị cái thành phố khoát lên những mỹ miều phồn hoa xa lạ. Bên cạnh nhà ba tôi là trường phổ thông trung học Phan Bội Châu. Nhìn những cô cậu học trò hôm nay đến trường tôi không sao tìm thấy hình ảnh của tôi và bè bạn. Cũng là học trò nhưng ngày trước chúng tôi hồn nhiên thơ mộng biết bao; còn bây giờ cũng áo dài trắng quần xanh nhưng trông lớp con cháu này có dáng vẻ của một người đi... mua chữ chứ không phải đi học (!). Mai này khi tạm biệt Tam Kỳ tôi biết mình sẽ buồn và có thể tôi sẽ khóc vì biết rằng tôi đã mất đi một điều quý giá nhất trong đời một con người.
      Và tôi cũng không rõ người bạn thân của tôi LĐC có nhận được "quyền lợi" của mình đã góp phần trong công trình đồ sộ "Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng" dày 1800 trang không nữa!

LƯU  VỸ BỬU

More...

HÀ NỘI NHỮNG NGÀY GIỮA THU

By LƯU VỸ BỬU

      1.Tôi rời Hà Nội khi bảng điện tử bên Hồ Gươm báo còn 21 ngày nữa là đến đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Sắp trung thu nhưng Hà Nội vẫn nắng gay gắt. Cái nắng nóng báo hiệu những cơn mưa sắp kéo về và cũng dễ làm người mệt mỏi.
      Suốt mười ngày trong chuyến đi tôi ở tại Hà Nội khoảng 2 ngày đêm. Khoảng thời gian ít ỏi này không đủ để quan sát hết Hà Nội những ngày cận lễ. Nhưng cũng đủ để tôi kịp ghi nhận rằng các vuông cỏ bên Hồ Gươm mới được trồng chưa kịp bén rễ. Ô Quan Chưởng vẫn đang che chắn để tân trang sửa chữa. Khu phố cổ vẫn bộn bề xe cộ chen kín lối đi. Ban đêm đèn màu sáng rực các biểu tượng của đại lễ; chương trình ca nhạc mừng Thăng Long - Hà Nội ngàn năm tuổi diễn ra cuối tuần bên Hồ Gươm chật ních người xem và cũng xô bồ hỗn độn. Tuy nhiên cái cảm nhận không thể xoá được là người ta đang tập trung dồn sức cho kỷ niệm "ngàn năm một thuở" này thật hoành tráng và nghiêng về... mặt nổi tức những cái mà người dân dễ dàng thấy dễ dàng nghe.
      Buổi tối quanh quẩn trong lòng phố cổ và tránh xa các khu "Tây ba lô" chúng tôi lang thang để tìm trong lòng đêm Hà Nội chút tinh hoa cũ càng chút hương hồn của "dấu xưa xe ngựa". Nhưng thật khó! Hà Nội bây giờ không như Hà Nội của thời trước. Không phải của  năm sáu mươi năm trước; cũng không phải của vài ba mươi năm trước. Hà Nội bây giờ đang cố gắng trở thành một Sài Gòn của phương Bắc và sự cố gắng đó đã phá hỏng một Hà Nội thâm trầm sâu lắng.
      Thật ấu trĩ khi cứ muốn Hà Nội bao giờ cũng là một Hà Nội của ngày xưa với 36 phố phường thấm đượm những nét rất riêng mà không đô thị nào trong nước có được với đê Yên Phụ lộng gió trong văn chương Tự Lực văn đoàn với tranh phố Phái nhạc Đoàn Chuẩn - Từ Linh ... Nhưng cũng thật ấu trĩ khi muốn biến đô thị ngàn năm tuổi này thành một thành phố trẻ như Sài Gòn ở phương Nam nắng gió muốn Hà Nội trở thành đô hội đầy đủ những  sắc màu vốn xa lạ và kệch cỡm với Hà Nội. Hình như trong quá trình phát triển một đô thị người ta thường có thói quen tập trung đến hạ tầng cơ sở đến những cao ốc mà ít lưu tâm đến phần hồn của đô thị ấy. Chính sự "ít lưu tâm" đó mà không chỉ Hà Nội còn có nhiều đô thị khác đang "lớn phình" rất nhanh nhưng lại nhạt nhoà bản sắc...

      2.Tôi tin rằng những người dân Hà Nội chính gốc hay những người có thời gian dài sinh sống ở đây và cả những người biết Hà Nội qua các trang sách những ca khúc đều yêu mến một Hà Nội "xanh xanh liễu rũ..." một Hà Nội "chiều mùa thu gió về rộng trên phố phường nắng vàng hồng tươi..." một Hà Nội "phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu..." một Hà Nội hào hoa mà nền nã lãng mạn mà thâm trầm. Cũng giống như người ta yêu Sài Gòn phóng khoáng trẻ trung sôi nổi vậy. Tôi cũng yêu Hà Nội như vậy. Và Hà Nội trong tôi là 5 cửa ô là heo may thổi suốt mùa thu là những con phố nhỏ ấm áp ... Mỗi lần đến Hà Nội là tôi lại tìm đến một góc phố một quán nước bên đường để lắng nghe và trò chuyện với những người Hà Nội cũ. Những lúc đó tôi cảm nhận một Hà Nội của riêng mình: "Hỡi thành đô với linh hồn bách thảo; có nhớ ta chàng tuổi trẻ tóc bay; làm học trò không sách vở cầm tay; có tâm sự đi nói cùng cây cỏ...(thơ Đinh Hùng)". Hà Nội của tôi là "ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi ... phố phường rải ánh trăng mơ liễu mềm rủ gió ngây thơ...". Một Hà Nội tình tứ say mê: "Hà Nội chờ đón tết hoa chen người đi liễu rũ mà chi; Đêm tân xuân hồ Gươm như say mê Chuông reo ngân Ngọc Sơn sao uy nghi Đường phố vắng bóng đèn Chạnh lòng tôi nhớ tới người em;... Em tôi đi màu son lên đôi môi Khăn san bay lả lơi bên hai vai Trời thắm gió trăng hiền Hà Nội thêm bóng dáng nàng tiên...".
      Hà Nội bây giờ to lớn hơn hiện đại hơn đông đúc hơn. Đó là tín hiệu vui! Nhưng cùng lúc Hà Nội đang dần mất đi bản sắc riêng đang dần phai nhạt đi vốn văn hoá quý giá gom góp từ nghìn năm mà người ta vẫn gọi là thủ đô nghìn năm văn hiến. Đó không phải là nhận xét của tôi mà là của chính người Hà Nội của vợ chồng già về hưu mở quán nước con con bán cho khách nhàn du ở góc phố Nhà Chung.

      3.Nghe giọng nói của tôi cậu tài xế bắt chuyện: "Bác ở trong Nam ra?". Tôi gật đầu hỏi lại: "Còn cháu?". Cậu tài xế cười: "Cháu dân Hà Nội 2 bác ạ!". "Hà Nội 2?". Vẫn cười tươi: "Gần đây người ta gọi dân Hà Tây là người Hà Nội 2.". Tôi vặn: "Thế người dân hai xã ở Hoà Bình chắc là Hà Nội 3?". Cậu lái xe lễ phép: "Cái đó thì cháu không biết ạ!". Tôi tự nhủ đúng là người mình hóm hỉnh thiệt. Mục đích sát nhập Hà Tây vào Hà Nội chính quyền giải bày thế nào thì tuỳ; còn người dân thì "đơn giản" hơn: "Các quan mua đất cát ở Hà Tây nhiều nên muốn nhập vào cho có giá". Cũng như chuyện chuyển cơ quan đầu não về Ba Vì (may mà không thực hiện) cũng được người dân "kết luận" gon lỏn: "Cũng là đầu cơ đất cát cả thôi!". Ngay đại lễ ngàn năm Thăng Long - Hà Nội cũng có tiếng bàn tán: "Cơ hội ngàn năm có một để kiếm chác nên người người cơ quan này cơ quan nọ đưa ra nhiều "sáng kiến" để phết phẩy phần trăm... (?!).
      Những câu chuyện "lượm lặt" như thế trong suốt chuyến đi chỉ có giá trị làm vơi phần nào mệt mỏi đường dài. Nhưng khi vào viếng các đền chùa các di tích tôi mới nhận ra vốn tiếng Hán (bây giờ gọi là Trung văn) những năm đại học của tôi đã mai một hết cả rồi. "Văn ôn" mà tôi lười biếng nên vài chục chữ Trung quốc tôi chỉ nhớ được 1 2 chữ. Bất giác tôi nghĩ thế hệ sau này nếu không học Trung văn thì làm sao hiểu được những tư tưởng những nội dung ghi trên văn bia trong hoành phi câu đối? Mà không hiểu thì lấy gì để trân trọng quý giá? Ôi nếu trong vô vàn dự án chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội có chút kinh phí nhỏ nhoi  dành để "phiên dịch" ra tiếng Việt những văn bia câu đối trong các di tích văn hoá trong chùa chiền miếu mạo dựng kề bên các nguyên bản chữ Hán để người sau có thể hiểu được những gì cha ông để lại.
      Đó là một cách thiết thực mừng đại lễ ngàn năm!
      Đó cũng là cách tôn vinh gìn giữ bản sắc văn hiến không chỉ của Hà Nội!


LƯU VỸ BỬU

More...

THÁNG 9 NHỚ TRƯỜNG CŨ

By LƯU VỸ BỬU

1.Ngôi trường nhỏ bé nằm ven sông Tam Kỳ: Trường Tiểu học Vân Côi nơi lưu giữ 4 năm đầu tiên đi học của tôi từ lớp vỡ lòng đến lớp Nhất (tức dự bị lớp 1 đến lớp 5 bây giờ). Sở dĩ tôi học 4 năm là được đặc cách học 1 năm 2 lớp. Cô giáo đầu tiên của tôi là bà soeur già Denis. Bà rất hiền và vui tính nhưng cũng rất nghiêm khắc với những học trò ham chơi hỗn hào. Hồi đó tôi thuộc số học trò nhỏ nhất lớp cũng tinh nghịch nhưng chăm học nên được bà Denis thương. Ba tôi không hiểu muốn gửi gắm điều gì mà đặt cho tôi cái tên thật... con gái: Lưu Thượng Uyển (sau này vì thiếu tuổi thi Tiểu học nên ba tôi phải làm lại khai sinh đặt tên như bây giờ). Người dân Tam Kỳ nói riêng Quảng Nam nói chung ít ai chịu khó... uốn lưỡi để phát âm cho đúng nên tôi vẫn được gọi là "thằng Yển" hay "thằng Yểng". Riêng bà Denis thì ngoài giờ học trong lớp ra bà hay gọi tôi là "thằng Ỉa". Chính bà "đổi tên" tôi nên bạn bè vẫn hay gọi theo như vậy. Hồi đó có một đứa cũng thuộc loại nhỏ tuổi nhỏ con như tôi là thằng Năng (bây giờ đổi tên là Đông một quý ông sếp một công ty xây dựng tên tuổi) vẫn hay chọc tôi như vậy. Năng có một "biệt tài" là khóc rất to và không bao giờ... chảy nước mắt. Mỗi lần nó chọc tôi nổi khùng "bịch" lại là nó la còn hơn người ta la làng. Cách đây mấy năm trong một lần về quê tôi gặp nó. Hai thằng kéo xuống quán Thuỷ tạ bên bờ sông Tam Kỳ ngồi ôn lại chuyện hồi còn... ở truồng. Năng nhớ nhiều hơn tôi. Nó nhắc tên từng đứa mà nhắc cái tên cúng cơm chứ không phải tên khai sinh đi học khiến tôi thực sự kinh ngạc. Trong số bạn cũ nó nhắc đến một đứa mà đến bây giờ lúc viết những dòng chữ này tôi cũng chỉ nhớ cái tên gọi ở nhà. Đó là thằng Mốc con bà Hải hộ sinh. Bà Hải với nhà tôi là chỗ thân thiết. Chính bà đã đưa tôi ra khỏi bụng mẹ nên thằng Mốc tôi không quên được. Nghe nói Mốc đang làm sếp lớn của một công ty bảo hiểm ở đâu tận Hà Nội. Một đứa bạn khác gần nhà tôi là thằng Dân bạn bè vẫn thường gọi nó là Dân điếc vì nó nặng tai; sau này nó đổi khai sinh lấy tên là Nguyễn Vân. Thằng này với tôi nhiều kỷ niệm lắm. Nhà nó có xưởng sản xuất thuốc lá tên là Đồng Tiến. Tôi hay xúi nó ăn cắp thuốc lá đưa cho bọn thằng Tri thằng Phò dưới phường 1 rừng Cừa để đổi lấy những con ve tàu to tổ bố kêu inh ỏi. Sau nhà thằng Dân còn có cây khế rất bự. Tôi với nó hay leo lên đó ngồi đọc truyện tranh. Cuốn truyện tranh hấp dẫn tôi nhất bấy giờ là cuốn "Con quỷ truyền kiếp". Đọc thì sợ nhưng không bỏ được. Hết truyện tranh thì chuyển sang đọc loại Sách Hồng. Tôi nhớ đã ngồi hết một buổi trưa để đọc cho xong truyện "Ông đồ Bể" của Khái Hưng. Hôm về đám cưới đứa cháu gặp Dân. Nó mừng quá rủ: "Hay mình họp lớp đi!". Trời đất cái lớp Năm (tức lớp 1 bây giờ) cách đây hơn 50 năm biết còn ai mà họp? Thằng Dân ngồi bấm ngón tay: "Nhiều lắm mi ơi! Con trai thì có tao thằng Năng thằng Nhì thằng Dần thằng Tri thằng Phò...; bọn con gái thì nhiều hơn nữa: Con Lan con Lược con Liễu con Hoà ..." Nó kể một hơi không thèm dừng để thở. Nhìn nó tôi thấy như sống lại ngày còn học tiều học. Thằng Dân cứ quen miệng "thằng thằng con con" chứ thực ra mấy người này tuy học cùng lớp nhưng lớn hơn tôi ít nhất cũng 5-7 tuổi. Có lần gặp lại Lan tôi không nhận ra. Lan nhìn tôi hỏi: "Có phải thằng Yểng không?". Tôi gật đầu và... rụt rè hỏi lại: "Cô là ai mà biết con?". Lan cười ngặt nghẽo: "Cô chi mà cô! Con chi mà con! Tao là Huỳnh Thị Lan học Vân Côi đây!". Tôi la: "Trời đất!" rồi chụp lấy hai cánh tay nhăn nheo của Lan mà rưng rưng. Tôi còn nhớ mấy cô bạn cũng "nhỏ con" (nhưng không biết có bằng tuổi không nữa): Hà Viên Quế và nhất là Kim Dâng có gương mặt tròn tròn... Không biết mấy bạn đó đang ở đâu? Lạy trời con cháu của mấy bạn đọc được bài này giúp chúng tôi gặp nhau thì còn gì vui hơn!

2.Hôm khai giảng năm học mới em nhắn tin: "Chúc thầy một năm học mới đầy đam mê và nhiệt huyết!". Nhận được lời chúc lòng không thấy vui mà nghe ngậm ngùi. Đơn giản đây là lời chúc mà 30 năm trước sau lễ khai giảng trong tiết học đầu tiên em thay mặt lớp đứng lên chúc tôi. Cô học trò ngày xưa bây giờ đã là một phụ nữ sắp bước sang tuổi 50 bận bịu công việc và làm ăn nhưng vẫn nhớ những ngày đầy sôi nổi và hừng hực lửa. Bây giờ mà nói chuyện ngày đó thì... tội nghiệp quá. Nhưng chỉ cần một lời nhắn là có thể quên hết những muộn phiền những bụi bặm những bức bối đang bũa vây. Nghĩ cũng lạ nhiều lúc thấy mệt mỏi bế tắc và chán nản đến độ muốn buông xuôi thì những lời nhắc nhớ về một kỷ niệm như giọt cam lồ làm sạch sẽ tâm hồn. Tôi phát hiện ra điều này khá muộn màng nhưng bù lại luôn lấy đó làm phương thuốc chữa tâm bệnh cho mình. Với tôi niềm vui là những lúc ngồi quanh bạn bè là những khi gặp lại học trò cũ của mình. Mà học trò dù bây giờ đã ông nọ bà kia bao giờ cũng đứng "thứ 3" nghịch như thuở mặc quần xanh áo trắng. Có điều tôi lấy làm lạ là hình như với tôi các em đối xử thân mật hơn nhưng vẫn... sợ như ngày còn đi học. Không hiểu sao lúc còn đi dạy tôi nghiêm khắc với học sinh đến độ sau này có em nói: " Hồi đó ngày nào cũng trông thầy bịnh để được... nghỉ học!". Tôi nghe mà cười không nổi! Tôi nhớ có đọc ở đâu đó ý này: Những học sinh nhớ thầy cô lâu nhất chính là những đứa hồi đi học ngỗ nghịch nhất. Tôi nghiệm thấy không sai! Những em ngày xưa thường bị tôi phạt bây giờ lại thường đến thăm tôi nhiều hơn. Những năm đi dạy để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Đó chính là quãng đời đẹp đẽ nhất của tôi.
   Tôi đến Tam Dân trong một tâm thế vừa hãnh diện vừa bất mãn. Hãnh diện là vì được trưởng phòng giáo dục lúc đó mời về ngồi "cho uống nước đường" rồi "động viên" lên trên đó một năm vì thiếu giáo viên. Tôi nhớ ông Ngọc và ông Tài hứa: "Phòng nhờ anh lên chi viện một năm thôi. Hè sang năm sẽ chuyển anh về lại thị xã". Được "khen" rồi được "nhờ cậy" không hãnh diện sao được? Còn bất mãn thì đơn giản hơn: Tôi đang dạy ở trung tâm thị xã gần nhà tự nhiên phải đạp xe 10 cây số không bất mãn thì chỉ có... thánh! Công bằng mà nói lúc đó nếu không có Vũ Khắc Trọng bạn tôi về làm hiệu trưởng ở đó thì chưa chắc tôi đã "ngoan ngoãn" nhận quyết định điều động. Đến Tam Dân tôi mới thực sự ngỡ ngàng. Ngôi trường cũ được trưng dụng dạy 3 ca: sáng trưa chiều. Cửa ngõ thì phòng có phòng không; bàn ghế ngắn dài thiếu trước hụt sau cứ sau mỗi ca học là học sinh phải khiêng bàn khiêng ghế để sắp xếp chỗ ngồi; giáo viên thì thiếu tôi phải dạy cả 3 ca ca nào cũng 4-5 tiết nên những tuần đầu tiên tôi tưởng mình không trụ nổi. Sau này khi được bổ sung thêm 3 cô giáo đào tạo 10+3 (tháng) và ngôi trường mới xây dựng xong tôi mới nhẹ thở một chút.
   Cực nhưng không nản là nhờ các em học sinh chứ không phải nhờ chế độ chính sách gì cả. Ngày đó thú thật tôi không phải lo chuyện cơm áo vì gia đình cũng còn sung túc. Lương  chẳng phải "nộp" cho ai và tôi cũng không tiêu xài gì nên làm việc là chính chẳng nghĩ ngợi xa gần. Nhờ vậy mà tôi có nhiều cơ hội gần gũi học sinh của tôi hơn. Tôi hiểu được hoàn cảnh của nhiều em và không như tôi nghĩ không như tôi hình dung học trò của tôi hồi đó cực khổ vô cùng. Có em mồ côi cả cha lẫn mẹ ngoài giờ học phải làm ruộng đi làm củi để lấy tiền sinh sống và nuôi em ăn học. Có em gia đình chỉ còn lại 3 người phụ nữ: bà ngoại mẹ và em; nhà thì chỉ mái lá che tạm sơ sài thầy đến không có ghế mời thầy ngồi... Thế mà các em vẫn cố gắng học. Học trò vậy thầy cô nào không nỗ lực dạy dỗ?
   Cũng chính tại Tam Dân tôi mới hiểu hết thế nào là tình thầy trò. Ở Tam Dân học trò có em ngang bằng tuổi tôi vừa kính trọng vừa yêu quý thầy như người cha người anh trong gia đình. Vì thế hồi đó tôi bất chấp quy định "không được đánh đập học trò" tôi thẳng tay phết roi vào mông những em nào không thuộc bài không làm bài. Đánh xong còn bắt về mời phụ huynh lên làm cam kết nữa. Vậy mà chẳng ai "kiện" chẳng ai "phê bình" cả. Cũng tại Tam Dân tôi không chỉ dạy chữ dạy người mà tôi còn học được những điều không có trong bất kỳ giáo án không có trong chương trình bồi dưỡng giáo viên hằng năm. Đó là một khi người thầy đã tạo được niềm tin trong lòng người dân thì họ xem thầy cô giáo như thành viên kính trọng nhất trong gia đình họ. Tôi nhớ lại một buổi tối trong lúc đang chấm bài thì có tiếng gọi của trước phòng. Đó là L. học sinh tôi chủ nhiệm. Nhưng không chỉ có L. mà còn một bóng người phụ nữ khác đứng nép phía sau. Thì ra L. đưa mẹ tới gặp tôi. Người mẹ nghèo khổ ấy kính cẩn đặt trên bàn tôi một chai rượu trắng một đĩa trầu cau và chắp tay nói: "Tôi đến xin thầy cho L. nghỉ học để lấy chồng...". Tôi lật đật kéo tay bà ngồi xuống hỏi han cặn kẽ. Mẹ L. cho tôi biết tuổi thật của con mình và tôi thực sự không tin được L. chỉ kém tôi vài tháng tuổi. L. là đứa học trò đầu tiên của tôi lập gia đình.

   3.Tôi tiếc mình không phải là nhà văn. Nếu không tôi sẽ dành thời gian viết về những ngôi trường mà tôi đã học đã dạy. Hay dở thì chưa biết nhưng chắc chắn trong đó chứa đựng những yêu thương những vàng ngọc mà bất kỳ ai như tôi đều trân trọng gìn giữ.

LƯU VỸ BỬU

More...

"CỬA VẪN ĐÓNG VÀ ĐỜI IM ỈM KHOÁ"

By LƯU VỸ BỬU

      1.Tin giáo sư Ngô Bảo Châu được tặng huy chương Fields gây xôn xao dư luận khơi dậy niềm tự hào về trí tuệ Việt. Đồng thời cũng là dịp để mọi người từ người dân bình thường đến các nhà quản lý lãnh đạo nhìn lại những gì mình đã sống đã làm đã gieo. Bên niềm vui niềm tự hào -  phải có - còn có một nỗi trầm ngâm ưu tư khác. Đó là tại sao đến thời điểm này khi giáo sư Ngô Bảo Châu được dự đoán là sẽ được (và trở thành sự thật) tặng thưởng huy chương cao quý này thì dư luận đặc biệt là ở các vị lãnh đạo mới lên tiếng ca ngợi và đề nghị tặng thưởng huân chương? Khen thưởng là chuyện phải làm nhưng đọc thông tin trên báo có cảm giác người ta... vội vã chứng tỏ mình quan tâm đến nhân tài chứ không xuất phát từ chân thành mến mộ. Chẳng vì thế mà có lãnh đạo mời giáo sư Ngô Bảo Châu về nước làm việc với mức lương đặc cách ưu đãi là 5 triệu đồng/tháng? Tất nhiên phục vụ đất nước ai tính chuyện lương thấp hay lương cao nhưng nghe ngậm ngùi làm sao! Mức lương này quả thực so với mức lương căn bản 730.000 đồng/tháng thì quá lớn nhưng xin thưa lương một kỹ sư mới ra trường tốt nghiệp loại khá trở lên hiện nay nhiều nơi trả đến chục triệu đồng/tháng mà tuyển không ra. Để đánh giá chính xác sự ưu đãi này tôi cố công đi tìm mức lương hiện nay của các bộ trưởng nước ta nhưng rất tiếc tìm chưa ra. Ngay cái kho tư liệu khổng lồ Google cũng không thấy có. Căn cứ lời của ngài phó thủ tướng: "đặc cách" "lương ưu đãi" thì có thể tin là mức lương này lớn lắm rồi (!?).

      2.Cũng trong thời điểm này hai cuộc thi nhan sắc lớn diễn ra trên nước ta với phần thưởng dành cho người đoạt danh hiệu cao nhất lên đến cả tỷ đồng (chưa kể những "quyền lợi" kèm theo). Biết so sánh là khập khiễng nhưng không khỏi chạnh lòng khi thấy trí tuệ vẫn bị xếp sau nhan sắc. Mà đó là trí tuệ vượt lên tầm cao thế giới chứ không phải thứ "tốt mã" trong ao tù làng xã! Biết sao bây giờ khi người ta vẫn thích ngồi gần nhan sắc hơn sát vai với trí tuệ! Không phải lúc này sự "ngược ngạo" ấy mới bày ra mà đã từ lâu phần thưởng dành cho thành tích trí tuệ luôn bé nhỏ thậm chí rất bé nhỏ so với nhan sắc. Nếu trên thương trường người ta lấy sắc đẹp để làm mồi câu người tiêu dùng (gọi theo kiểu hoa mỹ là tiếp thị là đại sứ thương hiệu ...) thì có thể hiểu vì lợi nhuận luôn là thước đo hiệu quả của các nhà kinh doanh. Còn chúng ta luôn đề cao truyền thống hiếu học khoa trương về 4000 năm văn hiến mà cư xử rẻ rúng với tri thức với trí tuệ thì mong gì có được một Việt Nam giàu mạnh về kinh tế phong phú về văn hoá? Tôn vinh vẻ đẹp Việt là việc nên làm nhưng trước hết phải tôn vinh trí tuệ tâm hồn Việt. Đó là nền tảng để một đất nước phát triển.

      3.Tôi không dám khẳng định nhưng tin rằng nhận xét này cũng có cơ sở: Nước ta là một trong ít nước trên thế giới này coi trọng và ham thích... khen thưởng! Thử nhìn lại những năm qua có rất nhiều đơn vị nhiều cá nhân được tặng thưởng. Có thành tích thì được khen thưởng; đó là chuyện bình thường và cần thiết vì nó công nhận những đóng góp của đơn vị của cá nhân cho cộng đồng cho đất nước. Nhưng làm tròn trách nhiệm cũng được khen thưởng thì quả là quá hào phóng. Nhân kỷ niệm ngày thành lập một ngành nào đó chắc chắn sẽ có vài cá nhân đơn vị thuộc ngành đó được thưởng huân huy chương. Đã thưởng huân huy chương thì phải kèm theo hiện kim quy định gần như là... pháp lệnh đó được tuân thủ một cách triệt để. Tiền kèm theo suy cho cùng cũng lấy từ tiền dân đóng thuế. Ngay giáo sư Ngô Bảo Châu sau khi được tặng thưởng huy chương Fields cũng được đề nghị tặng thưởng huân chương. Làm cho thế giới nghiêng mình trước trí tuệ Việt như giáo sư Ngô Bảo Châu thì tặng mấy huân chương cũng không đủ. Quan trọng là việc tặng thưởng huân chương phải xuất phát từ thái độ trân trọng tri ân chứ không phải như trước đây khi một ca sĩ được giải thưởng quốc tế liền hối hả phong tặng "nghệ sĩ nhân dân" để rồi sau đó "nghệ sĩ nhân dân" này... vượt biên. Nếu "xếp chung hàng" với những người như vậy e rằng giáo sư Ngô Bảo Châu buồn nhiều hơn vui! Vừa rồi nghe nói việc phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân nghệ sĩ ưu tú sẽ có những thay đổi lớn hơn dễ dàng hơn. Vì thế mà có tờ báo đã đưa tin là lúc đó sẽ có đầy dẫy những nghệ sĩ nhân dân nghệ sĩ ưu tú. Việc khen thưởng vẫn đang được triển khai vẫn đang được các ban ngành đoàn thể các đơn vị cá nhân khẩn trương thực hiện và có lẽ cho đến khi ban Thi đua khen thưởng từ cơ sở đến trung ương tất thảy đã được khen thưởng thì hy vọng khi đó mới hết chuyện "ta khen mình mình khen ta"?

      4.Hà Nội đang bước vào thời điểm nước rút của đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. 1000 năm một cái mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành không chỉ của một thành phố mà còn của cả đất nước. Nhưng nhìn cái cách thực hiện đại lễ này không khỏi băn khoăn. Hầu như người ta chú ý quan tâm quá nhiều vào hình thức kể cả những phù phiếm nặng về xa hoa. Trên thế giới nhiều thành phố cũng tổ chức kỷ niệm như ta nhưng người ta làm cách khác. Nhân sự kiện trọng đại này người ta giới thiệu vẻ đẹp những nét độc đáo về văn hoá con người phong cảnh di tích ... cho người nước ngoài biết mà tìm đến. Còn chúng ta thì cứ chú trọng đến những vụn vặt những hình thức và tiêu xài phung phí giống như 1000 năm mới có một lần để... xài. Hôm theo dõi cuộc thi hoa hậu nghe đại diện địa phương Quảng Ninh tuyên bố "chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội" mà muốn bật cười. Trước đây Ngày thơ Việt Nam tổ chức khắp các tỉnh thành người ta vẫn cứ "chào mừng 1000 năm TL-HN" như thể nếu không có sự kiện này thì không tổ chức được hay sao?  Người ta kêu ra rả như cuốc mùa hè mà sao không biết ngượng nhỉ? Quen thói "nói nhiều" "nói theo" thì phải! Người ta đang trăn trở vì nét văn hoá thanh lịch của đất Tràng An xưa đang dần mai một và có nguy cơ mất hẳn thì sao không nhân dịp 1000 năm TL-HN mà chấn hưng mà tôn vinh? Làm vậy thiết nghĩ lợi ích nhiều mà ý nghĩa càng thêm sâu. Mong muốn là sau khi tổ chức đại lễ xong nên kiểm toán lại để xem đồng tiền bỏ ra đạt được những kết quả nào.

      5.Những ý nghĩ này tôi đã được nghe được đọc nhiều và cũng có những điều được nêu ra từ lâu nhưng sao vẫn chẳng thấy chuyển biến gì. Chợt nhớ lại câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên: "Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời. Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá...". Sao người ta lại thờ ơ với những tâm huyết như vậy nhỉ? Xin hãy tháo khoá mở cửa lắng nghe gạn đục khơi trong để thấy rằng nếu một giáo sư Ngô Bảo Châu làm rạng rỡ trí tuệ Việt thì bên cạnh đó hàng triệu người Việt Nam cũng mong muốn đóng góp sức của mình theo phương châm "quốc gia hưng vong thất phu hữu trách" để Việt Nam nghiễm nhiên đàng hoàng sánh vai với bất kỳ quốc gia hùng mạnh nào.

LƯU VỸ BỬU

More...

Ý NGHĨ RỜI NHÂN ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

By LƯU VỸ BỬU

      1.Chủ đề của đại hội Hội Nhà văn Việt Nam kỳ này là: "Vì sự cường thịnh của đất nước; Vì phẩm giá con người" nghe mà giật cả người!
      Chúng ta quen thích "ăn to nói lớn" hay nói cách khác là "nói như rồng leo" ai nghe nói cũng thấy sướng tai huống gì người trong cuộc tự nhiên được ca tụng thấy mình trở nên... quan trọng và ngon lành quá nên nếu có bay bổng trên chín tầng mây cũng là điều... dễ hiểu.
      "Vì sự cường thịnh của đất nước vì phẩm giá của con người" đúng là... "khẩu hiệu" vì Hội Nhà văn có gần 1000 hội viên được tập trung dự đại hội hết (nghe đâu có hơn 700 hội viên dự). Chỉ tính tiền di chuyển tiền ăn ở tiền phong bao (họp trưởng phó đoàn cũng có phong bì) tiền lương trả cho các hội viên không làm việc (vì bận dự đại hội) tiền tổ chức đại hội tiền công phục vụ ... không biết tiêu hết bao nhiêu tiền dân đóng thuế đây? Tốn tiền thôi cũng được vì hội nào cũng đại hội đoàn thể nào cũng đại hội nhưng giữa hai kỳ đại hội có được bao nhiêu tác phẩm tương xứng với số tiền đã chi phí?
      Sực nhớ lại chuyện trước đây Hội Nhà văn được ngân sách cấp cho một số tiền để "đặt hàng" các nhà văn sáng tác. Không biết bao nhiêu tiền đã chi ra (mỗi nhà văn đăng ký được nhận 25 triệu) và đã có bao nhiêu tác phẩm được "giao trả" và trong số đó có được mấy tác phẩm đáng giá với số tiền được nhận?
      Không biết có phải vì lâu nay Hội Nhà văn tiêu tiền đóng thuế của dân nhiều quá mà "kết quả sáng tạo" lại không được bao nhiêu nên đại hội lần này mới đưa ra tiêu chí "Vì cường thịnh của đất nước"? Vì vậy trước hết "vì sự cường thịnh của đất nước" xin các hội viên Hội nhà văn đừng (trước mắt là giảm) xài tiền của dân nữa mà hãy sống bằng nghề nghiệp bằng tác phẩm của mình. Thực tế có không ít nhà văn sống đàng hoàng thậm chí sống giàu có chính bằng tài năng bằng sự sáng tạo chứ không bằng bầu sữa ngân sách.
      Chủ đề thứ 2 là "Vì phẩm giá con người". Chủ đề này hơi bị nhạy cảm và cũng dễ bị... xuyên tạc. Tuy nhiên phải công nhận thân phận con người vẫn còn mờ nhạt trong không ít các tác phẩm được xuất bản trong thời gian qua. "Cánh đồng bất tận" của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư là một trường hợp đặc biệt và gần như là duy nhất tạo được dư luận xã hội. Có điều này tôi muốn nói nhưng sợ xúc phạm đến các nhà văn chân chính: đó là phẩm giá của không ít nhà văn cũng cần được... gia cố lại trước khi nói đến những điều đại sự to tát hơn.

      2.Tôi nghĩ mãi không biết nên cười hay khóc khi biết có gần 400 người ra ứng cử vào Ban chấp hành hội Nhà văn. Vào BCH có "quyền" có "lợi" gì mà sao nhiều hội viên "hăng hái" ứng cử vậy (xin lỗi các hội viên được đề cử quý vị không nằm trong số này). Có lẽ chưa có một tổ chức nghề nghiệp nào có cuộc bầu cử "đông vui" như thế?
      Cách đây không lâu một anh bạn góp ý là nên in một vài tập thơ hay một vài tác phẩm nào đó để được giới thiệu vào Hội nhà văn (tiêu chuẩn đầu tiên là có tác phẩm được xuất bản). Anh bạn cũng dành dụm bỏ tiền ra in thơ để tặng và chủ yếu là được kết nạp vào Hội nhà văn. Anh cũng đạt được nguyện vọng và sau một thời gian ngắn anh ngán ngẩm thừa nhận: Chưa được kết nạp thì ao ước được trở thành hội viên. Chừng kết nạp rồi thì thấy chẳng có gì hay. Cũng vì vậy mà nhiều nhà văn tên tuổi muốn xin ra khỏi hội trong khi đó nhiều người chưa được kết nạp lại tỏ ra không vui có người tỏ vẻ bất bình ra mặt. Sao lạ vậy nhỉ?
      Đại hội lần này có rất nhiều tiếng... vỗ tay khiến không ít hội viên chuyển mục đích đi dự đại hội sang "đi coi HN chuẩn bị đại lễ 1000 năm thế nào". Bởi họ thấy chán nản và thất vọng quá. Cũng nên ghi lại là trong một đại hội nhà văn địa phương số đại biểu vắng mặt không tham dự chiếm gần ½ số hội viên. Ai quan tâm đến văn học nước nhà chắc cũng phải thở dài!

      3.Tôi "mê tín" các nhà văn tập tành viết lách từ thuở nhỏ nhưng không có "duyên nợ" với nghề viết văn. Tôi cũng quan niệm viết văn là một nghề như bất kỳ một nghề nào khác. Nghĩa là nhà văn cũng phải tự mình làm ra tiền để nuôi bản thân mình và gia đình như một thầy giáo một công nhân hay một nông dân. Dù sản phẩm của mỗi ngành nghề khác nhau nhưng trách nhiệm và bổn phận thì giống nhau. Vì thế nhà văn cần phải hiểu rằng đừng nên nhân danh nghề nghiệp vốn được xã hội coi trọng mà yêu cầu được ưu đãi thế này được quan tâm thế kia. Tại sao nhà văn này mỗi năm xuất bản vài tác phẩm và được độc giả tìm mua; trong khi đó có nhà văn cả mấy năm trời chẳng in được một cuốn sách nào mà cho dù có in ra cũng chẳng ai mua? Vậy mà lại lớn tiếng đòi chế độ ưu đãi này nọ!
      Tôi không biết ở các nước khác nhà văn sống như thế nào nhưng có lẽ hầu hết họ đều phải sống bằng nghề nghiệp của mình. Riêng Việt Nam rất ít nhà văn sống bằng tác phẩm của mình. Họ mang danh nghĩa nhà văn để làm báo lấy quảng cáo; mang danh hiệu hội viên hội nhà văn để được đi thực tế đi tham quan đi du lịch miễn phí và cả để xin nhà nước chi tiền!
      Tôi lại biết chắc hàng triệu nông dân Việt Nam cả năm không được cầm một cuốn sách trên tay nhưng số tiền họ đóng thuế đang được không ít các nhà văn vô tư hưởng lạc.
      "Vì sự cường thịnh của đất nước; Vì phẩm giá của con người" xin các hội viên Hội Nhà văn VN (và các tổ chức xã hội khác) đừng biến nó thành "mỹ từ".

LƯU VỸ BỬU

More...

XOÈ BÀN TAY RA BẠN NHỎ!

By LƯU VỸ BỬU

 

      Xòe bàn tay ra bạn nhỏ! Những ngón tay thuôn trắng hồng hay những ngón tay sần sùi chai sạn? Là gì đi nữa cũng vẫn là bàn tay của một con người. Bạn có nghe bàn tay đó nói gì không? Nếu tịnh tâm và kiên nhẫn một chút thôi bạn sẽ nghe lời bàn tay rất rõ.
      Bàn tay nhỏ bé ấm áp và bụ bẫm là bàn tay em thơ đang say giấc nồng trong vòng tay âu yếm của  mẹ. Bàn tay này đang rung lên rất nhẹ những giai điệu đầu tiên của một đời người về hạnh phúc tinh khôi và hồn nhiên. Những ngón tay nhỏ nhắn xinh xắn có thể giúp bạn lọc đi những bụi bặm của đời thường; có thể giúp bạn phục hưng trí óc đang mệt mỏi... Còn bàn tay này đây những ngón tay thuôn dài mà mỗi lần chạm đến ta dễ dàng nhận ra những rung động tê người những cảm xúc ngất ngây như muốn bay bổng. Nếu có lần nào đó giữa thiên nhiên thơ mộng ta nắm hờ bàn tay đó chậm rải cùng người thả từng bước chân thì dù ở Đà Lạt hay  Venice hoặc đơn giản là con đường làng "hoa dại với mùi rơm" tâm hồn ta vẫn ngập tràn những cảm xúc mà đời người ai cũng một lần có được và không thể nào quên. Và đây bàn tay nhăn nheo không còn thon chắc nữa. Thời gian đã kịp để lại dấu ấn trên từng ngón tay nó xoá đi làn da mịn màng tươi mơn mởn để thay vào đó làn da đồi mồi chảy xệ nhưng mỗi khi nắm lấy sao ta cứ nghe bồi hồi bổi hổi trong lòng. Sau một thất bại nào đó trong cuộc đời dù là một thanh niên mới vừa rời ghế giảng đường hay là trung niên "tứ thập bất hoặc" hay là một gã râu tóc bắt đầu "lấm tấm tuyết sương" thì khi cầm lấy bàn tay yếu đuối ấy tự nhiên bạn sẽ thấy mình được chở che như ngày nào bé dại vậy cơ hồ những lo toan phiền muộn đang dần dần tan chảy ra một cách dịu nhẹ...

oOo

      Tôi đang cầm lấy hai bàn tay. Không phải "bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa" cũng không "tay măng trôi trên vùng tóc dài" mà là bàn tay sần sùi chai sạn và đầy góc cạnh. Bàn tay mà nếu đặt riêng ra ai cũng tin đó là bàn tay của một người đàn ông. Tạo hoá tặng cho em nhiều cái tốt đẹp nhưng lại éo le dành cho em đôi bàn tay đàn ông cứng cáp mạnh mẽ. Nhưng đó là bề ngoài chứ mỗi khi thời tiết đổi thay hai bàn tay đó lại tê cứng khó co duỗi và nhức nhối vô cùng.
      Tôi cầm lấy hai bàn tay. Hai bàn tay đàn ông nhưng lạ lùng sao tôi vẫn nhận ra sự dịu dàng tha thiết và hơn thế nữa hai bàn tay trở nên mềm mại nói với tôi về những sóng gió cuộc đời những đêm thắc thỏm không biết sáng mai ra sẽ sống như thế nào; những ngày não nuột vì phía trước sao cứ mờ mờ khói sương. Vậy mà đôi bàn tay ấy đã làm tất cả những gì được quyền làm và cả những điều không được phép làm với một mục đích duy nhất là để gìn giữ cuộc sống không chỉ cho riêng mình.
      Tôi cầm lấy hai bàn tay đó mà nghe trong đó âm thanh giông bão gầm rít nghe những tiếng thở dài nặng trĩu và cả những tiếng cười dòn tan vang lên. Tôi vui buồn theo từng cảm nhận của mình. Tôi xót xa khi nghĩ đến đôi bàn tay này dù thuận tình hay không phải làm những điều không được phép làm. Và tôi vui mừng xiết bao khi hình dung ra đôi bàn tay khô ráp đó cần mẫn và nhẫn nại như con ong mang mật ngọt về cho tổ ấm của mình.

oOo

      Xoè bàn tay ra bạn nhỏ!
      Đã có bàn tay thì ai cũng được mong có người cầm lấy nâng niu. Đã có bàn tay thì ai cũng phải trải qua những tầng nấc thời gian những thời khắc của cuộc đời. Nhưng đã có bàn tay thì cũng nên biết cúi xuống nắm lấy bàn tay khác chứ không phải mong đợi người ta đến nắm tay mình.

LƯU VỸ BỬU

tháng 7 2010

More...