GỬI EM YÊU THƯƠNG

By LƯU VỸ BỬU

 

Bầu trời cao xanh ai cũng có thể thả cánh diều
Chúng ta cũng từng gửi lên đó những ước mơ
Có ước mơ nở hoa
Có ước mơ thành bong bóng
Chúng ta vui buồn mà không nói ra
      nên diều buồn như dây rối.

Bây giờ anh ngồi nhìn em bước ra khu vườn chật hẹp
Khu vườn có mưa có nắng nhưng không đủ để em vẫy vùng
Hãy bước ra chân cứng đá mềm
Bầu trời bao la sẽ đón em 
      đón một người khát khao yêu cuộc sống

Em hãy bước thật mạnh mẽ và cười thật tươi
(Cuộc đời ghét những ai mang bộ mặt đám tang đến với nó)
Hãy yêu mọi người 
      và cũng nên cảnh giác những trang sức giả hiệu
Trong hành trang của mình.

Hãy bước đi em đừng lo ngại
Dẫu bẩu trời ngoài kia không chỉ có mây trắng bềnh bồng
Còn cả giông tố và những mũi tên tẩm thuốc độc
Rình rập bắn vào em

Hãy bước ra khỏi khu vườn đi em
Không cần phải gieo lông ngỗng
Anh vẫn nhìn thấy em 
      vẫn ở bên cạnh mỗi khi em nản lòng
Sẽ chìa tay khi em mê mải vấp chân

Và khi mỏi mệt em muốn quay về khu vườn nho nhỏ cũ
Anh vẫn ngồi đó chờ em
Sẽ cùng khóc với em
Về một hạnh phúc muộn.

LƯU VỸ BỬU

More...

VÔ ÂM

By LƯU VỸ BỬU

 

Trước bàn phím vô hồn
Tình yêu hóa thành nỗi nhớ
Nỗi buồn nẩy quả
Rồi gửi  mây ngàn về nơi em

Như lao công giữa chợ đời lấm lem
Ta trầy trụa trong ao tù nước đọng
Đâu là sen đâu là hương dịu mỏng
Để em vui quên tóc rối muộn phiền

Nếu không thể nối dài ngày qua đêm
Ta sẽ thắp quanh em trời tinh tú
Sẽ treo trăng trên nơi em nằm ngủ
Chiêm bao em là những nụ hồng

Ta thả rèm  khép những long đong
Cho em vui những ngày trẻ dại
Mắt thiếu phụ xanh ngời trở lại
Môi tin yêu thơm ngát nụ hôn đầu

Có gì đâu còn gì đâu
Giọt sương mai trước mặt trời nóng bỏng
Tình yêu cũng vậy chiều nay dậy sóng
Ngất ngư thuyền và ngất ngư ta

Thì thôi xin ngắt một lời ca
Chẻ thành năm ba nỗi nhớ...

LƯU VỸ BỬU

             

More...

VIẾT THÊM VỀ CHUYỆN THI ĐẠI HỌC

By LƯU VỸ BỬU

Tôi nhận được email của một bạn trẻ đề nghị nói thêm về chuyện thi đại học ngày trước. Tôi xét thấy mình không đủ khả năng để nói rõ chuyện này. Nhưng cũng không muốn người bạn trẻ buồn lòng tôi xin nói về kỳ thi mà tôi đã tham dự. Còn kỳ thi ở những trường khác thì tôi không biết. Mong các bậc tiền bối bỏ chút thời gian nói thêm về chuyện này. Xin cám ơn.

   Trước năm 1975 ngành sư phạm là một trong những ngành được nhà nước phân bổ chỉ tiêu tuyển dụng. Vì thế thi vào ngành sư phạm khá khó khăn. Nếu dùng thuật ngữ "chọi" như hiện nay thì có lẽ lúc đó "tỉ lệ chọi" (không chính xác lắm) lên đến 1/vài trăm. Cũng chính vì ưu tiên như vậy nên sinh viên sư phạm được cấp giấy "hoãn dịch vì lý do học vấn" hằng tháng được cấp học bổng (tôi không nhớ rõ là bao nhiêu nhưng nếu ăn theo tiêu chuẩn quán cơm sinh viên thì có thể tạm ổn).
   Thi vào đại học sư phạm hồi đó gồm 2 phần: thi viết và thi vấn đáp. Đỗ thi viết mới được thi vấn đáp. Sau khi thi viết khoảng 20 ngày sau là có kết quả (niêm yết tại trường đăng trên báo đọc trên đài phát thanh...). Sau đó chừng 2 tuần lễ sinh viên thi viết đỗ sẽ được gọi đến thi vấn đáp. Tôi nhớ trước khi thi vấn đáp chúng tôi được yêu cầu đến Y tế học đường kiểm tra sức khỏe. Sau này tôi được biết chủ yếu là kiểm tra ngoại hình coi có bị dị tật không phát ngôn có chuẩn không vì ngành sư phạm yêu cầu cao về mô phạm trong đó chú ý đến hình ảnh người thầy trước học sinh. Thi vấn đáp chúng tôi được bốc thăm chọn đề tài. Mỗi người có khoảng 30 phút để chuẩn bị nội dung. Sau đó trình bày trước Hội đồng giám khảo (hồi đó tôi nhớ có 3 vị giáo sư làm giám khảo) và trả lời cũng như phản biện lại những ý kiến của các giám khảo. Thông thường người ta lấy thí sinh đỗ kỳ thi viết nhiều hơn một chút để đến kỳ thi vấn đáp chọn đủ người theo chỉ tiêu của chính phủ.
   Sau khi học xong chương trình sẽ có kỳ thi tốt nghiệp ra trường. Kỳ thi này rất quan trọng không chỉ xác định sinh viên đủ điều kiện để làm thầy giáo mà là điều kiện để sinh viên chọn nhiệm sở công tác của mình. Tùy vị thứ cao hay thấp mà sinh viên lần lượt lên chọn nhiệm sở. Ai có vị thứ cao thì chọn trước. Số nhiệm sở tương ứng với số sinh viên tốt nghiệp nên ai có vị thứ cao người đó có quyền chọn nhiệm sở theo ý mình. Người có vị thứ cuối thì còn nhiệm sở nào phải nhận nhiệm sở đó. Sau đó nhà trường lập biên bản và gửi về Bộ Giáo dục ra quyết định.
   Lâu quá nên chỉ nhớ đại để vậy. Hy vọng người bạn trẻ cũng biết thêm chút ít. Nhân đây xin các bận đàn anh ai nhớ và biết kỳ thi ở các trường khác xin bỏ chút thời gian trả lời để các bạn trẻ hôm nay hiểu thêm về chuyện thi đại học ngày trước. Xin cám ơn.

LƯU VỸ BỬU

More...

THI ĐẠI HỌC SAO NHIÊU KHÊ QUÁ VẬY?

By LƯU VỸ BỬU

 

   Chiều nay một người bạn ở tỉnh đưa con về Sài Gòn thi đại học gọi điện cho tôi để hỏi thăm đường đi. Điểm thi của con gái anh là một trường tiểu học gần Ngã tư Ga. Sau khi chỉ đường cho anh tôi chợt nhớ lại thế hệ mình cách đây gần 40 năm trước.
   Hồi đó chỉ tính trong phạm vi quận Tam Kỳ (tỉnh lỵ Quảng Tín ngày trước nay là thành phố Tam Kỳ Quảng Nam) tôi không nhớ chính xác có bao nhiêu thí sinh thi đại học ước chừng trên dưới 300 người. Sau khi vượt "vũ môn" kỳ thi tú tài toàn phần (còn gọi là tú tài 2 một kỳ thi có tính quyết định của học sinh đặc biệt với học sinh nam; nếu thi rớt con đường tiếp theo một là nếu gia đình khá giả thì chạy làm lại giấy tờ thường là khai nhỏ tuổi lại để trốn lính đến nơi khác tiếp tục học; hai là vào lính) số học sinh đỗ tú tài nếu có điều kiện học tiếp thì phần lớn vào Sài Gòn thi đại học một số ít ra Huế và một số ít nữa là thi vào Trường Sư phạm Quy Nhơn và sau đó có thêm Trường Sư phạm Đà Nẵng và Đại học cộng đồng Đà Nẵng. Phần lớn thí sinh chọn Trường Sư phạm Quy Nhơn là nữ sinh vì làm cô giáo dạy tiểu học hồi đó là một nghề có sức hấp dẫn nhẹ nhàng mà lương cao. Một số ít là nam sinh chủ yếu là để an toàn khỏi lo quân dịch.
   Tôi còn nhớ lúc bấy giờ chỉ có một số trường đại học muốn vào học phải thi như: Sư phạm Y khoa Phú Thọ ... Còn hầu hết là chỉ cần ghi danh theo học như: Văn khoa Luật... Còn đại học tư thì... vô tư chẳng cần điểm sàn điểm mái gì hết. Vì thế hầu như các thí sinh đều muốn "thử sức" bằng cách nộp đơn thi vào các trường để có học bổng và sau này khi ra trường sẽ được chính phủ bổ nhiệm có công việc làm ngay lương cao và quan trọng nhất là học các trường này được cấp giấy "hoãn dịch vì lý do học vấn". Nếu hỏng thì qua ghi danh học các trường không cần phải thi (nhưng vẫn bị khống chế tuổi nếu quá tuổi quy định thì bị động viên nhập ngũ ngay). Hồi đó người ta cũng khống chế thời gian nếu thi ở Huế thì không thể thi ở Sài Gòn hoặc nơi khác vì trùng ngày.
   Lan man chuyện cũ cho vui. Cái chính tôi muốn nói là hồi đó chiến tranh ngày càng khốc liệt các nam sinh như chúng tôi luôn ở trong tình trạng phập phồng thi hỏng thì coi như cầm chắc lệnh nhập ngũ trong tay. Vì vậy ngoại trừ một bộ phận con nhà giàu có quyền thế ham chơi hơn ham học (thời nào cũng có) chúng tôi học ngày học đêm quyết vượt qua kỳ thi tú tài và sau đó là đại học để có một tương lai bảo đảm.
   Cũng vừa 18 tuổi (cũng có người lớn hơn) như những học sinh bây giờ nhưng ngày đó chúng tôi vào Sài Gòn hay ra Huế hoặc Đà Lạt Quy Nhơn ... thi đại học hầu hết đều đi một mình. Hoặc vài đứa bạn rủ nhau đi chung cho vui chứ chẳng có cha mẹ anh chị dẫn đi như bây giờ. Mà hồi đó chiến tranh ác liệt lắm đường bộ thì không an toàn. Xe chỉ chạy ban ngày thường là buổi sáng ở Tam Kỳ tối nghỉ ở Nha Trang; ngày mai chạy tiếp vào Sài Gòn chứ không chạy đêm. Tàu lửa không hoạt động; những gia đình giàu có thì cho con em đi máy bay nhưng số này ở Tam Kỳ đến được chừng mươi người. Sở dĩ phải dông dài vì thế hệ bây giờ được tiếng là năng động nhanh nhạy tài năng; an ninh trật tự xã hội bây giờ tốt hơn hồi đó nhiều (hòa bình mà!); phương tiện đi lại phong phú hiện đại nói chung là mọi thứ đều tốt hơn hồi chúng tôi thi đại học mà sao các thí sinh đều phải có cha mẹ đi theo khiến nhiều địa phương phải mướt mồ hôi để lo cho họ?
   Hồi đó cũng chẳng ôn tập chẳng đề cương đề nhu gì cả. Học sao cứ vậy mà thi tùy theo ngành nghề mà có môn chính môn phụ. Ai có khả năng và nguyện vọng gì thì nộp đơn thi vào trường đó. Đậu thì học rớt thì ra ghi danh các trường khác nếu còn tuổi hoãn dịch. Chẳng nguyện vọng 1 nguyện vọng 2 cũng chẳng có chuyện rớt đại học thì xuống cao đẳng hay trung cấp như bây giờ. Hồi đó cũng chẳng có chuyện học quy chế hướng dẫn điền hồ sơ chú ý mã số trường mã số ngành rối như canh hẹ. Chúng tôi làm hồ sơ đơn giản và hầu hết chẳng cần ai giúp đỡ cả. Xong xuôi chờ phiếu báo danh và đến ngày thì đi thi. Điều đáng lo nhất (mà cũng hợp lý nhất) là tập trung học bài thôi. Không như học sinh bây giờ thấy rối tung và lo lắng đủ chuyện như "gà phải cáo"(!).
   Nhớ hồi trước chúng tôi có mấy ai được đi đây đi đó. Nhiều người đến lúc đi thi đại học mới được bước ra khỏi tỉnh nên Sài Gòn Huế... chẳng khác gì một... quốc gia khác(!). Thế mà cứ một mình một gói "lai kinh ứng thí" tự tìm chỗ trọ chỗ ăn tìm trường thi chẳng phiền cha mẹ bà con. Báo chí hồi đó cũng khác bây giờ chẳng báo nào phóng viên nào rảnh để săn tin gia đình thí sinh này nghèo cha mẹ phải khăn gói vào Sài Gòn cùng con đi thi... Thực ra hồi đó bạn bè tôi nhiều người không có tiền mua vé xe để đi Sài Gòn thi; nhiều bạn vừa đặt chân tới thành phố đã vội đi tìm việc làm kiếm ngày 2 bữa cơm để đợi đến ngày thi. Thi xong tiếp tục làm để có thể sống và theo học. Những chuyện đó gần như là bình thường giống như... Trần Minh khố chuối; họ chẳng cần báo chí dư luận lên tiếng giúp đỡ. Tự họ biết rằng phải tự vượt qua số phận xem đó là trách nhiệm bổn phận của mình. Ai giúp đỡ thì tốt không thì tự họ cũng phải lo và nếu buông xuôi đầu hàng thì coi như họ chấp nhận thua cuộc. Hiện nay thế hệ chúng tôi có nhiều người thành danh cũng từng trải qua những ngày tháng khó khăn như vậy.
   Bây giờ thì báo chí cứ như kêu gọi từ thiện. Chuyện cũng bình thường (như công an không nhận tiền mãi lộ cũng đăng báo như làm việc anh hùng) nhưng cũng "gia vị" đủ thứ để khơi gợi lòng thương (không biết có "hại" trong đó không nữa!) của người khác mà không hề nghĩ việc làm đó xúc phạm đến lòng tự trọng của người trong cuộc. Hay bây giờ người ta "lãnh cảm" quá rồi nên báo chí mới làm công việc... đành thức lương tâm?
   Trở lại chuyện đi thi đại học có lẽ chưa có nước nào như ta việc thi cử vừa nặng nề vừa rối rắm lãng phí. Và cả chục năm hơn việc đi tìm mô hình mới trong việc tuyển sinh đại học cho phù hợp vẫn cứ như... gà què ăn quẩn cối xay. Vì vậy thi đại học vẫn còn nhiêu khê phức tạp. Sao ta không bỏ hẳn việc thi đại học chỉ giữ lại những ngành những trường đào tạo theo ngân sách nhà nước tuyển sinh có số lượng mục đích rõ ràng để thí sinh tự xét mình có thể thi đỗ thì nộp đơn dự thi? Nếu không họ sẽ tìm trường khác phù hợp hơn.

LƯU VỸ BỬU

More...

TỰ KHÚC

By LƯU VỸ BỬU

 


Mới rời nhau đã nhớ rồi
Xe chưa khỏi bến đã bồi hồi trông
Lỡ mai ngăn núi cách sông
Biết lấy chi để ấm lòng nhau đây?

Bát chén trong bếp còn khua
Ta sao tránh khỏi những ngày không vui
Yêu nhau chín bỏ làm mười
Nắng mưa cũng chỉ làm đời thêm hương

Câu thơ chưa chấm xuống dòng
Ta đi chưa hết con đường thế gian
Mỏi chân ngồi nghỉ bên đàng
Yêu thương rồi sẽ gánh gồng mai sau.

LƯU VỸ BỬU

More...

QUẢNG NAM YÊU THƯƠNG

By LƯU VỸ BỬU

 

   1.Hôm chủ nhật trong đám cưới con người bạn có một thanh niên lên góp vui văn nghệ. Tiệc cưới đông người tiếng cười nói ồn ào không nghe được bài hát chỉ biết đó là bài hát viết về Quảng Nam. Anh thanh niên hát xong Trương Duy Diệm nói: "Hát về Quảng Nam là vỗ tay cái đã hay dở tính sau!". Cái tình quê thấm sâu trong từng hơi thở từng suy nghĩ của những người tha phương. Mà cái đó rất khó để có thể nói một cách tỉ mỉ chính xác như làm một bài tính. Ai cũng cảm nhận được nhưng để diễn tả thì tôi tin rằng dù là một nhà văn đoạt giải Nobel cũng không thể nói hết được tại sao ở xứ người khi nghe một giọng nói quê nhà tim bỗng rung lên dữ dội nghe nhắc đến quê mình lòng bỗng co thắt lại? Cũng chính vì thế khi vào Tuổi trẻ online ngày 20/6/2009 thấy một bài báo giật tin : Quảng Nam lãnh đòn vì "hay cãi" ngay lập tức cảm giác tự ái vì bị xúc phạm tràn dâng trong lòng. "Quảng Nam hay cãi..." là câu nói cửa miệng (nhận xét chê bai ...) của nhiều người ngay cả chính người Quảng cũng dùng để "chê" nhau. Tôi cũng không rõ có phải Quảng Nam hay cãi hơn xứ khác không nhưng trong một cuộc tranh luận (đề tài chẳng ghê gớm gì) khó có thể "phân thắng bại" thì bên yếu thế thường bị lãnh ngay một câu có tính... quyết định: "Đúng là mày (ông bà) dân Quảng Nam hay cãi thiệt!". Người nói câu này không phải quê quán ở nơi khác mà mấy đời cha ông hít thở không khí Quảng Nam mà lớn lên. Nhưng nói gì thì nói dân Quảng Nam "chê" nhau "Quảng Nam hay cãi" thì không sao chứ người nơi khác mà thốt ra câu đó coi chừng bị... đòn!

   2.Cũng liên quan đến tính "hay cãi" này trong chuyến đi chơi Đèo Le Hòn Kẽm Đá Dừng người hướng dẫn đoàn nguyên là lãnh đạo một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn hóa vừa nghỉ hưu đi làm thêm kể chuyện vui. Ông hỏi chúng tôi: "Mấy anh biết tại sao trong các cuộc kháng chiến dân Quảng Nam hy sinh nhiều nhất không?". Chúng tôi chưa biết trả lời sao thì ông đã hoạt kê: "Tại vì hay cãi! Giặc đến chạy núp hầm bí mật mà cũng còn cãi nên lộ hết". Cái tính "hay cãi" đó tự nhiên trở thành... thương hiệu của dân Quảng Nam (không biết có bao gồm Đà Nẵng không nữa). Tôi không phải là nhà Quảng Nam học lại không có ý định đi sâu nghiên cứu về con người Quảng Nam nên chỉ nghĩ đâu viết đó thôi xin được miễn chấp. Dân Quảng Nam có nhiều cá tính "kỳ cục" lắm nếu người ở đâu đến hoặc lần đầu tiên tiếp xúc sẽ thấy khó chịu và... ít cảm tình. Nhưng đã "bén rễ" thì mới thấy người Quảng Nam "trên cả tuyệt vời" mà người xứ khác khó bì kịp (!?). Tôi còn nhớ một lần đoàn văn nghệ từ trong Sài Gòn ra biểu diễn ở Tam Kỳ (Quảng Nam). Sân bãi đông kín người ca sĩ lên biểu diễn chỉ nghe tiếng khán giả lao xao bên dưới chứ không một tiếng vỗ tay. Mặc cho Ban tổ chức kêu gọi rả họng cũng chỉ vài tiếng vỗ tay lấy lệ. Ca sĩ thắc mắc nhưng không dám hỏi có lẽ một phần không tự tin vào mình nhưng sau khi hiểu thì ai cũng... vui. Dân Tam Kỳ (Quảng Nam) là vậy hát hay thì im lặng nghe đó là phần thưởng cao nhất dành cho ca sĩ. Nhưng ca sĩ nào hát không đúng ý thì coi chừng bị la hét đòi đuổi xuống chẳng khác gì holigan bóng đá vậy.

   3.Thực ra nói đến Quảng Nam người xứ khác nghĩ ngay đến Hội An đến sông Thu Bồn. Sau đó sẽ là Duy Xuyên Mỹ Sơn Đại Lộc... Nếu hỏi người chơi trong một game show nào đó: "Đâu là tỉnh lỵ Quảng Nam?" tôi tin rằng sẽ có người trả lời là Hội An. Tam Kỳ hình như chưa đủ "tầm cỡ" để có thể "vang danh thiên hạ". Nhưng với tôi khái niệm Quảng Nam lại gắn liền với Tam Kỳ mặc dù "quê cha đất tổ" của nội ngoại là Hội An. Có lẽ do thời gian sống ở Tam Kỳ nhiều hơn và đặc biệt là những kỷ niệm của một quãng đời người từ khi bắt đầu đi học cho đến lúc... từ biệt Tam Kỳ "tha phương cầu thực". Tôi nhớ thuở "mười lăm mười bảy làm học trò mắt sáng với môi tươi" bọn ưa văn nghệ chúng tôi đứa nào cũng có vẻ "khùng khùng" lập dị. Đứa nào cũng cố làm ra khác người càng nhiều càng tốt bây giờ nghĩ lại mới thấy hồi đó ngô nghê nhưng thi vị hơn thế hệ bây giờ. Những năm 1970-1972 chiến tranh ngày càng ác liệt bạn bè tôi lần lượt rời mái trường để vào lính có đứa mới tạm biệt bạn bè vài tháng sau đã ra người thiên cổ. Chúng tôi "than vãn" như những... ông cụ: "Tam Kỳ đất tán chứ không phải đất tụ". Mà thực lứa tuổi tôi cứ lần lượt ra đi. Đứa may mắn hoặc chưa đến tuổi quân dịch thì rời thị xã nhỏ bé để đến các thành phố lớn hơn; đứa lớn tuổi nhưng gia đình khá giả thì lo chạy giấy tờ thay tên đổi họ hay sửa ngày tháng năm sinh để trốn lính tiếp tục học cũng phải chuyển đến học ở nơi khác cho an toàn; đứa kém may mắn thì phải vào lính để rồi sau đó phiêu dạt khắp nơi...

   4. Tam Kỳ là đất tán hay tụ là chuyện của "ngày xưa còn bé". Bây giờ Tam Kỳ của tôi đĩnh đạc là một đô thị loại 3 mặc dù vũ trường vẫn còn nhiều chàng trai mới lớn nhảy nhót bằng dép lê mặc dù bò trâu vẫn nghênh ngang cùng xe cộ giữa lòng thành phố mặc dù nó vẫn còn bóng dáng của một phố huyện đồng bằng. Tam Kỳ trở thành tỉnh lỵ lần thứ 2 tính từ năm 1962. Trước nó là tỉnh lỵ Quảng Tín. Thăng trầm lịch sử nó trở thành huyện rồi nâng lên thị xã và bây giờ là thành phố tỉnh lỵ Quảng Nam. Tôi yêu Quảng Nam trước hết là yêu Tam Kỳ. Giống như người ta yêu Hà Nội yêu Sài Gòn yêu Trà Vinh nhưng cụ thể họ sẽ yêu một huyện một khu phố nào đó gần gũi hơn. Chính vì yêu mà nghe một thông tin gì đó tôi lại "sống chết" vui buồn cùng nó. Nhớ lại cách đây vài năm bạn bè gọi báo tin lãnh đạo Quảng Nam có chủ trương thực hành tiết kiệm: lãnh đạo tỉnh dùng chung 1 toilet để tiết kiệm; không dùng phong bì để đựng công văn gửi các ban ngành địa phương... tôi vừa tức cười vừa thấy tội nghiệp cho Tam Kỳ cho Quảng Nam. Với tư duy và tầm nhìn như vậy làm sao Quảng Nam có thể mở mày mở mặt với các nơi và người dân cứ phải... bán đất mà ăn?! Chính vì yêu mà tôi ghét biết bao những người đang sống trên mảnh đất đó mà không biết làm gì để vinh danh nó lại lấy nó làm cơ hội  kiếm tiền cho mình. Cũng chính vì yêu mà tôi quý biết bao những người dân hiền hòa chất phác mộc mạc và... "bảo thủ" Quảng Nam .

   5. "Quảng Nam yêu thương" là tên bài hát của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu. Bài hát này nhắc đến nhiều địa danh ở Quảng Nam từ miền núi đến vùng biển thậm chí còn "lấn sang" vùng đất thuộc Đà Nẵng bây giờ nữa thế mà Tam Kỳ lại không có tên trong đó. Tôi nhớ khi hỏi chú Phan Huỳnh Điểu thì nhận được câu trả lời đại khái là Tam Kỳ chẳng có cái gì để có thể đưa vào nhạc. Tôi nghĩ đó là câu trả lời rất thật. Tôi vẫn cố tìm xem Tam Kỳ có cái gì để có thể làm biểu tượng mà tìm mãi vẫn chưa ra. Tháp Chàm ở Chiên Đàn thì không thể sánh với Mỹ Sơn; biển Tam Thanh thì không thể ngang hàng với biển Rạng Chu Lai; Hồ Phú Ninh thì bây giờ đã thuộc huyện Phú Ninh. Người ta cố tình chia nhỏ Tam Kỳ để biến nó thành đô thị làm "mặt tiền" cho tỉnh đã vô tình tước đi của Tam Kỳ những tiềm năng của nó. Có thể Tam Kỳ sẽ lớn mạnh nhờ về dịch vụ nhưng để đạt được điều đó thì còn rất dài rất lâu. Và nếu điều đó là hiện thực thì Tam Kỳ chỉ còn là một đô thị ồn ào một thứ "chợ" phục vụ cho việc đổi chác mua sắm mà phần "hồn" của nó đã không còn nữa. Có nghĩa Tam Kỳ đang đi dần vào sự khoa trương vào chỗ phồn hoa như một cô gái lộng lẫy mà vô duyên đến chán ngấy. Trở lại bài hát của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu tôi rất thích một câu hát "chơi chữ" rất khéo và tinh tế của ông: "Đất Quảng Nam chưa đi (mà) đã nhớ...". Tôi nhớ đất nhớ tình xứ Quảng và em hãy cùng tôi về Quảng Nam đi.

LƯU VỸ BỬU

More...

KHÔNG ĐỀ CHO EM

By LƯU VỸ BỬU

 

Có những ngày rỗng không
Buồn dâng lên ngập hồn
Cô đơn thành lệ ứa

Có những chiều hiu hắt
Mong ngóng một bàn tay
Che mưa tạt tình gầy

Có những đêm úa nhàu
Ngộp thở vì nhớ nhau
Không hay tình rạn vỡ

Phải em giăng sương phủ
Xuống đời ta oan khiên?

Phải ta mượn muộn phiền
Phả vào em dang dở?

Xin đời thôi giông gió
Để ngồi lại bên nhau
Ta còn mãi xưa sau.

LƯU VỸ BỬU

More...

CHIỀU THỨ BẢY NGHĨ VỀ EM

By LƯU VỸ BỬU

 


Lagi Phan Thiết.


Vùi nỗi buồn xuống đất
Phân hủy những thương đau
Những suy tính được mất
Để đâm chồi mùa sau

Mang niềm vui ra phố
Gieo hoa lên mặt người
Để lòng như trẻ nhỏ
Nở những nụ môi tươi

Em có là gai nhọn
Cũng xin đau nhẹ nhàng
Tôi có là đá tảng
Cũng bên em dịu dàng

Có gì đâu sau cuối
Ngoài đi về với nhau
Tình yêu là xá lợi
Sáng ngời cả thương đau.

LƯU VỸ BỬU

More...

NHÂN NGÀY BÁO CHÍ VIỆT NAM

By LƯU VỸ BỬU

 

Ngày mai là "Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam" xin có mấy ý kiến:

1/Mấy tờ báo tạp chí chuyên hướng dẫn ăn chơi nhảy múa tô son điểm phấn thậm chí giới thiệu tư thế giao hợp có phải báo chí cách mạng không ?

-Nói KHÔNG PHẢI e không đúng vì họ có giấy phép của cơ quan cách mạng cấp họ hoạt động đúng pháp luật cách mạng mà. Nói không phải họ sẽ giận họ sẽ phê bình đó.

-Nói PHẢI thì "xúc phạm" cho các nhà báo làm việc tại những tờ báo có tính phản biện hướng dẫn dư luận tốt và được người đọc đặt niềm tin. Bởi những nhà báo này có tâm có kỹ năng và đi sâu vào những chuyện nóng bỏng thiết thực đến đời sống người dân cũng như của xã hội. Để họ đứng chung với các "nhà báo" chuyên khai thác chuyện giật gân há chẳng phải xếp... cá mè một lứa sao?

Lời bàn: Vậy xin cắt bỏ 2 chữ "Cách mạng" cho gọn. Có hay không có 2 chữ này suy cho cùng chẳng ảnh hưởng đến ai cả.

2/Các cơ quan quản lý báo chí (từ cơ quan chủ quản cơ quan quản lý ngành quản lý tư tưởng ...) khi cấp giấy phép hoạt động báo chí thẻ nhà báo và khi đọc lưu chiểu có bao giờ thấy "khó chịu" khi thấy sản phẩm do mình quản lý lãnh đạo nó... xa rời quần chúng nó không ‘định hướng xã hội chủ nghĩa" mà chỉ chạy theo những thói dung tục vong nô không?

-Nói KHÔNG thì "phạm thượng" vì có tờ báo được một lãnh đạo cấp cao làm cố vấn nên đâu có dễ gì lệch hướng. Có chăng những tờ báo đó chỉ "giới thiệu" cuộc sống nước ta ở thế kỷ 22 để người đọc ai tò mò thì coi... cho biết. Vả lại có khi đến thời điểm đó nước ta đã xã hội chủ nghĩa rồi cần gì định hướng nữa!

-Nói BIẾT nhưng làm sao bây giờ? Đóng cửa rút giấy phép sao được! Tuy các báo này không... cách mạng nhưng nó cũng chẳng gây phiền đến lãnh đạo đến cơ quan nào. Nó chẳng quan tâm chú ý tại sao ông này ăn lương nhà nước mà nhà to cửa rộng hay ông kia làm chi có tiền mà cho cả bầy con sang Mỹ du học. Hơn thế nữa những người đọc báo này chẳng hề có ý kiến về bauxite về lao động Trung Quốc tràn sang Việt Nam... Tóm lại các tờ báo này vừa mang lại lợi ích cho... người bán giấy phép lẫn người mua giấy phép và không khiến nhà chức trách "hao tâm tổn trí" cũng như lo nghĩ.

Lời bàn: Trong xã hội luôn có nhiều thành phần nhiều hạng người cùng chung sống. Có nhà chính trị có thầy tu có công an thì cũng phải có du côn trộm cắp mới hình thành nên xã hội. Báo chí cũng vậy phải có tờ này tờ khác cho xôm tụ chứ. Vả lại tất cả đều là báo chí cách mạng mà.

More...

NHỮNG NGÀY TÔI SỐNG (2)

By LƯU VỸ BỬU

 

THÁNG 6: AI NGỜ GIẾNG CẠN!

1/Tôi không nhớ mình viết báo từ lúc nào chỉ nhớ là lúc còn học cấp 2 tôi đã tập tểnh làm thơ viết văn gửi các báo. Bài gửi nhiều nhưng đăng được lại đếm trên đầu ngón tay. Tên tôi xuất hiện thường xuyên trong mục "Bài nhận được". Thi thoảng nhận được vài lời khích lệ của các báo. Hồi đó tôi (và bạn bè mê văn thơ viết lách) chẳng quan tâm đến nhuận bút và hình như các báo cũng chẳng trả cho các tác giả "vô danh tiểu tốt" và ở xa đồng nhuận bút nào (?). Nhưng "có công mài sắt" năm 16 tuổi tôi trở thành phóng viên chính thức của tuần báo Thằng Bờm một tờ báo dành cho thiếu nhi do ông Nguyễn Vỹ làm chủ nhiệm và chị Phan Thị Thu Mai làm thư ký tòa soạn. Sở dĩ tôi nói là "phóng viên chính thức" là vì được cấp Thẻ Báo chí dán ảnh và tên tôi "chễm chệ" trong đó. Tôi không rõ các nhà báo hồi đó được cấp thẻ thế nào chứ thẻ báo chí của tôi đơn giản lắm chỉ có chị Thu Mai thay mặt tòa soạn ký chứng nhận và chính quyền nơi tòa soạn tọa lạc xác nhận chữ ký của chị Mai. Thẻ in bằng 2 thứ tiếng: Việt và Anh trong thẻ có dòng chữ đại ý: Đề nghị nhà chức trách tạo điều kiện để tôi làm nhiệm vụ. Suốt thời gian làm "phóng viên" cho tuần báo Thằng Bờm tôi nhớ chỉ sử dụng thẻ này có 1 lần gọi là tác nghiệp đúng nghĩa. Đó là lần đầu tiên đến một trường tiểu học phỏng vấn thầy hiệu trưởng và tìm hiểu tình hình học tập của học sinh. Sau lần "phỏng vấn" đó thầy hiệu trưởng trở thành bạn vong niên của tôi đến mãi bây giờ. Tấm thẻ đơn giản ấy có ý nghĩa lớn lao với tôi. Nó giống như ngọn lửa nuôi tình yêu của tôi dành cho nghề báo sáng mãi. Tôi bắt đầu "nối sợi gàu dài" cho mình...

2/Năm 1975 gia đình tôi tiếp một người bà con từ miền Bắc về. Người này theo huyết thống là em ba tôi nhưng lớn tuổi hơn nên chúng tôi gọi bằng bác. Nói là về thăm nhưng thực chất là trên đường đi công tác ông tranh thủ ghé thăm gia đình tôi. Tôi còn nhớ ông đến không báo trước. Sau này khi tiễn ông mới thấy chiếc com-măng-ca dừng cách nhà tôi khá xa. Ông giữ ý để xe đỗ từ xa rồi đi bộ đến nhà. Khi biết tôi học đại học sư phạm khoa Việt Hán ông hỏi (có thể nửa đùa nửa thật): "Cháu theo bác làm báo nhé?". Tôi cười không trả lời vì lúc đó... đang yêu không muốn xa nhà. Rồi tôi đi dạy vẫn sáng tác nhưng chẳng biết gửi đi đâu. Thỉnh thoảng viết vài cái tin cho đài truyền thanh huyện kiếm vài đồng nhuận bút còm. Nhưng sự đời nhiều lúc không tính được và cũng chẳng ngờ được. Sau gần 10 năm đứng trên bục giảng tôi "bất đắc ý" xin chuyển ngành không được cuối cùng về phụ trách một chương trình truyền thanh phát hàng tuần trên đài huyện. Được một thời gian ngắn tôi hiểu được các "ngón nghề" bắt đầu chán. Chán nhất là những tin bài tuần nào cũng lặp đi lặp lại chẳng có gì mới. Một lần tôi thử viết một bài về chuyện vận động mua công trái. Viết xong đưa cho Ban Tuyên huấn duyệt trước khi phát thanh thì bị "giũa" một trận tơi bời. Mà không "giũa" sao được khi lãnh đạo ai cũng kêu gọi tự nguyện mua công trái tôi lại phản ánh chuyện ép buộc mua công trái của các cán bộ cơ sở: Mua bán nhà cửa xe cộ đều phải mua công trái mới kỳ chứng nhận; xin sửa nhà cũng phải mua công trái chứng ký giấy tờ gì liên quan đến quyền lợi của người dân thì nhất thiết phải mua công trái mới mong được ký chứng thực cho. Tức nhưng không sao nói được (và cũng không được quyền nói) nhân dịp Đài truyền thanh huyện củng cố nhân sự tôi tìm cớ "giã từ". Bao nhiêu đam mê háo hức và cả tâm huyết nữa tan như bong bóng xà phòng. Nhưng niềm say mê với văn chương báo chí không hề vơi trong tôi.

3/Năm 1990 tôi từ giã quê nhà vào Sài Gòn mưu sinh. Tại đây tôi gặp lại những người bạn học cũ và được khuyến khích "viết lại". Tôi chính thức sống bằng viết báo bắt đầu từ những tiểu phẩm nho nhỏ rồi đến những bài viết dài hơi. Tôi cũng học được những bài học nhập môn như: Không nên viết nhiều quá cho một trang báo vì phải để "đất" cho phóng viên và cộng tác viên khác; thỉnh thoảng nên "giao lưu" tình cảm với người phụ trách trang phụ trách ban để cùng "vui vẻ"; nên mở rộng quan hệ với các nhà báo và có dịp cứ "đại ngôn" vì... ít nói quá sẽ không có lợi cho mình (!);...  Sau đó tôi được mời làm thường trực tòa soạn cho một tờ báo đóng ở Hà Nội  nhưng phát hành hằng tháng tại Sài Gòn. Trong những lần gặp bạn bè anh em thân thiết tôi vẫn được nghe than: "Bây giờ chả có ai làm báo tâm huyết cả!". Nói vậy là hơi quá nhưng rõ ràng khá nhiều nhà báo hiện nay thích đi họp báo (vì có phong bì) thích làm PR thích khai thác quảng cáo. Đặc biệt họ chú ý "giữ mình" tránh những điều phiền lụy đến mình. Đó là chưa kể lúc làm thường trực tòa soạn hằng tháng tôi vẫn nhận được từ tòa soạn báo "mẹ" bản photo Thông báo của Ban Tư tưởng văn hóa (nay là Ban Tuyên giáo TW) trong đó có nhắc nhở những việc cần làm những điều không nên khai thác ... nên việc "ít ai tâm huyết" cũng có thể hiểu được. Thế là từ lúc "nối sợi gàu dài" từ tuần báo thiếu nhi đến bây giờ tôi nhận ra niềm đam mê của mình bị suy suyển lung lay.

4/Tôi chưa bao giờ xem việc viết (làm báo viết văn) là một nghề để kiếm sống cả chí ít là lấy đó làm mưu sinh mặc dù phải thừa nhận có lúc tôi nhận nhuận bút mà không tin được bằng cả mấy tháng lương anh cán bộ nhà nước tỉnh lẻ cộng lại. Chính xác hơn tôi nghĩ ngoài cái vật chất tất nhiên phải có phần hồn của việc làm báo cũng giữ một vai trò quan trọng thậm chí đó là mục đích sống của người làm báo nữa. Chỗ này viết báo gần giống với dạy học. Một thầy giáo cũ của tôi nói rằng: "Dạy học là mong cho học trò hơn mình. Nếu học trò ra đời mà kém mình là hỏng". Có thể lấy điều này để ví cho việc viết báo? Nếu anh lợi dụng chức năng "đệ tứ quyền" để làm tiền để gây áp lực người khác nhằm trục lợi cho mình thì anh là tên tội phạm đốn mạt nhất. Vậy mà trong suốt thời gian tôi làm báo tôi gặp quá nhiều tên "tội phạm" như thế. Đó là điều đáng buồn! Một người bạn ở tỉnh X. kể tôi nghe có "nhà báo" H. thuộc hạng lão làng tài năng thì làng nhàng nhưng gặp cơ hội được giao khá nhiều quyền. Anh này siêng chạy quảng cáo và lại thích vòi vĩnh và dụ dỗ các cô phóng viên cộng tác viên trẻ "đi chơi". Còn tội phạm nặng thì muôn hình vạn trạng: bắt doanh nghiệp đăng quảng cáo nếu không chịu thì dọa dẫm. Hoặc liên kết với người này để "triệt" người kia thậm chí có "nhà báo" nhận "lương tháng" cùng các món quà hậu hĩ như du lịch nước ngoài đi chơi bằng du thuyền 5 sao của các ông trùm xã hội đen để đổi lại bằng sự im lặng. Ác nghiệt nhất là không chỉ đơn thân phóng viên" tự nguyện" nhúng chàm mà có khi cả ban biên tập đồng tình sử dụng báo chí như một công cụ để trục lợi mưu đồ cá nhân. Không ít tờ báo kéo "bầu đoàn" đến các doanh nghiệp tiếng là để thâm nhập thực tế liên kết thực hiện chủ trương nào đó nhưng thực ra để doanh nghiệp "bao cơm" "mua quảng cáo" thậm chí... bán báo cũ. Những trò "bá đạo" đó vô hình trung làm báo chí mất đi chức năng "đệ tứ quyền" và trở thành một thứ  khó có thể gọi đúng danh. Trong lĩnh vực báo chí hiện nay vẫn có sự đánh giá ngầm. Đó là báo "chính thống"; kia là báo thương mại là báo mua giấy phép là đội lót... Cơ quan doanh nghiệp mua báo tháng đôi khi cũng mua cho "phải đạo" hay vì tế nhị chứ mua rồi chẳng hề đọc.

5/Hiện nay người đọc báo vẫn than là khó tìm được một tờ báo ưng ý. Đó là thực tế! Sau "sự cố" hai nhà báo bị xử án dư luận trong và ngoài ngành báo chí chưa thực sự "tâm phục khẩu phục" về kết quả án tuyên. Điều đáng nói hơn sức chiến đấu của những tờ báo này cũng giảm sút mạnh. Chim sợ cây cong chăng? Không rõ chỉ biết bây giờ các bài viết "khéo" hơn. Ví dụ như vụ bauxite thay vì nói thẳng thì nói quanh kiểu như lao động Trung Quốc không được nói thì nói đến lao động giúp việc Philippin; không nói đến môi trường do bauxite gây ra thì nói đến khí hậu trái đất thay đổi ... Những bài báo "khéo" đó vừa giảm tính phản biện vừa làm bạn đọc... mất hứng thú! Thói thường người đọc ở bất cứ ở quốc gia nào cũng thích nghe những ý kiến khác nhau. Họ muốn biết những việc có liên quan đến xã hội họ đang sống. Tôi cho rằng đó là những công dân đáng tôn trọng và tin cậy. Vì nghe những lời khác không có nghĩa là "đối lập" mà cái chính là họ tha thiết với đất nước muốn đất nước giàu mạnh. Cũng không phải thích "chuyện scandal" mà tự trong sâu thẳm ai cũng không thể tin rằng khó có thể có một xã hội mà mọi thứ diễn ra cứ "bình bình" như mặt nước hồ thu. Chính vì thế dư luận tìm hoặc đón nhận những "sự cố" khá nồng nhiệt mục đích để xem chính quyền giải quyết như thế nào có đúng như họ đã tin hay không chứ không hề lấy đó để chê bai xúc xiểm chính quyền. Báo chí đánh mất cái quyền được biết của người đọc sẽ trở thành nhạt nhẽo vô vị. Sợi dây gàu của tôi đã trở nên quá dài vì giếng cạn. Tôi cũng cạn dần niềm say mê của mình.

LƯU VỸ BỬU

18/6/2009



More...