TIỄN ÔNG TÁO

By LƯU VỸ BỬU

 

Tôi tiễn ông
Có hoa có bánh áo mão cân đai
Có cả "cò bay ngựa chạy"
Và không thiếu những tờ giấy bạc tất nhiên
Để ông làm lộ phí.

Về trời
Xin ông yên lặng
Ai hỏi gì ông hãy lặng thinh
Giấu kín nỗi niềm vào chiếc mũ cánh chuồn
Mặc sấm chớp ì ầm ngoài kia

Tôi tiễn ông và
Tôi tiễn tôi đi cùng mùa hết
Bằng những câu thơ gắng gượng vui
Bằng những nụ cười đắng chát
Để quên ngoài hiên đầy gió

Bếp nhà tôi khi nóng khi lạnh
Nhưng ông vẫn ngày hai bữa đỏ lửa.
Còn tôi có khi ngày hoá đêm
Đêm thành ban mai mây xám
Thương hoài một vì sao xa.

Tôi tiễn ông nhưng không ai tiễn tôi
Năm cùng tháng tận chén rượu này
Tôi xin tiễn đưa tôi...

LƯU VỸ BỬU

More...

TỪ KHÚC

By LƯU VỸ BỬU

Em như rượu cũ
Anh ủ ngàn năm
Đến nay nguyệt rằm
Hương bay ngào ngạt

Anh như hoang mạc
Em là suối non
Mà anh chết khát
Bên thềm cỏ xanh

Em như đá cuội
Rơi vào kẽ giày
Bước đi nhức nhối
Mà chẳng sao hay

Anh như lá bay
Giữa mùa giông bão
Phập phù lắt lay
Giữa người cuồng bạo

Quẩn quanh quanh quẩn
Rượu nhạt suối khô
Tình đã hư vô
Ngoài hiên nắng tắt...

LƯU VỸ BỬU

More...

MÂY TRẮNG YÊN TỬ

By LƯU VỸ BỬU


Lên núi tìm Phật
          Phật đi vắng
Mây trắng bời bời vờn núi xanh
Gõ vào cực lạc thanh âm lặng
Gõ vào cuộc đời
           tiếng buồn ngân


Sân thiền tiếng đời vang nhí nhố
Khói nhang như khói lá sau vườn
Phật từ bi
          Phật cười hỉ xả
Đời vô lương ta hoá vô thường.


Ngàn năm trước một trời mây trắng
Ngàn năm sau mây trắng một đời ta
Phù sinh  
          ừ nhỉ phù sinh thật
Chỉ mỗi mình em
          mỗi một hoa.


Lên núi tìm Phật
          lại nhớ em...

LƯU VỸ BỬU

         

                           

More...

MÙA THU LÊN YÊN TỬ

By LƯU VỸ BỬU


Chụp từ đỉnh Yên Tử. Uyển
 

1.

   Cuối cùng tôi cũng đặt chân được tới Yên Tử. Từ Lạng Sơn chúng tôi về Quảng Ninh nghỉ đêm tại Hạ Long sáng hôm sau ngược về Yên Tử. Mùa này không phải mùa lễ hội nên lượng người đến Yên Tử ngoài một số do tâm nguyện còn lại chủ yếu là vãn cảnh.
   Cảm giác đầu tiên khi đặt chân trên đường trúc là sự thư thái. Tiết trời dịu mát màu xanh tràn ngập. Xanh nõn lá non tơ xanh vàng lá sắp úa xanh đậm đà sắc cỏ xanh mơn mởn trúc tươi cộng với bầu trời trong xanh cứ tạo cho người đến Yên Tử một cảm giác trù phú mà thanh tao giàu có mà phong nhã. Cảm giác ấy từ cảnh ùa vào người; từ người phủ lên cảnh. Cứ thế mà miên man. Chân bước nhưng không nhìn bằng mắt mà bằng những giác quan cộng với sự tịnh không của tâm thế nên người cứ lâng lâng.
   Qua chùa Yên Tử rồi đến chùa Hoa Yên. Biết thân nên nhờ cáp treo đưa giùm hai chặng rồi mới leo từng bậc đá để lên chùa Đồng. Cứ dỗ mình để bước chân mỗi lúc một gần với đỉnh Yên Tử. Dù khí trời mát mẻ nhưng khi đặt chân đến nơi mồ hôi cũng kịp làm ướt áo. Nhưng không phải riêng tôi mà ai cũng vậy. Khi tới chùa Đồng thì bao nhiêu mệt mỏi từ cuộc hành trình tan biến lúc nào chẳng hay. Có thể do tâm linh. Cũng có thể cảm giác vượt qua chính mình khiến người ta quên  những nhọc nhằn đường đi...
   Từ đỉnh Yên Tử nhìn ra tôi không hiểu tại sao Thái thượng hoàng Trần Nhân Tôn (Tông) lại chọn đỉnh núi này mà không phải ngọn núi khác? Người ta giải thích rằng Yên Tử là nơi phát tích nhà Trần nên không chỉ vua Phật Trần Nhân Tôn mà trước đó các minh quân nhà Trần cũng từng chọn nơi đây. Làm sáng tỏ thắc mắc này là công việc của các nhà khoa học lịch sử và nghiên cứu Thiền Trúc Lâm. Riêng tôi cứ đau đáu một nỗi niềm: cách đây ngàn năm đường lên đỉnh Yên Tử chắc chắn gian lao hơn nhiều. Người "mở đường" phải "khai sơn phá thạch" phải tạo lối cho vua Trần đi. Có thể họ đã cáng kiệu nhà vua lên núi. Và trong đoàn người theo chân vua Phật lên núi không thể không có người sẩy chân rơi xuống vực hay gặp những tai nạn do đường cheo leo hiểm trở mà bỏ mạng. Đó là những người vì tuân lệnh vua mà đi hay cũng ngộ ý nghĩa của cuộc sống mà theo chân vua. Họ là những người vô danh vì lịch sử không dành cho họ những dòng chữ nào dù họ rất đáng được lưu danh kim cổ. Có thể họ cũng thành Phật thành bồ tát. Cũng có thể họ lại là oan hồn đang mong được quy cố hương...
   Cũng trong thời gian này có một tu sĩ phát tâm nguyện "nhất bộ nhất bái" từ Sài Gòn  đến Yên Tử. Đi theo vị tăng này cũng có chừng chục người không ai biết tên biết tuổi. Họ đi không vì ai ép buộc. Họ tận tuỵ phục vụ tâm nguyện của vị tu sĩ nọ. Họ đi trước quét rác trải quạt cho vị này "nhất bộ nhất bái". Họ che nắng che mưa giúp nhà sư thực hiện tâm nguyện mà chẳng hề đòi hỏi kể lể một điều gì. Tôi tự nhủ nếu vị tu sĩ này hoàn thành tâm nguyện được hiển Phật thành bồ tát thì những người phục vụ kia sẽ đắc đạo trước rồi. Xứng đáng được thành Phật!

2.

  Đứng trên đỉnh Yên Tử nhìn ra chung quanh thấy bời bời mây trắng. Hôm tôi ở đó thời tiết thay đổi không ngừng. Nắng đó hanh hanh vàng chưa kịp thưởng ngoạn thì mưa bụi đã giăng. Vì thế cảnh vật cứ xoay chuyển thay đổi theo không ngừng. Từ trên chùa Đồng trên độ cao 1068 mét so với mặt biển những dãy núi chập chùng lô nhô trong sóng mây tầng tầng không thể không gợi lên cho người đến đây những cảm xúc đan xen vào nhau về sự hùng vĩ của tổ quốc sự minh triết của một hoàng đế; về sự bền vững của giang sơn xã tắc... Nhưng trong xúc cảm tràn dâng ấy có một góc rất riêng về phù vân kiếp người.
Trên đỉnh Yên Tử tôi chợt nhớ đến những ngôi chùa bé nhỏ nép sau những tàng cổ thụ mà tôi bắt gặp trên đường đời của mình. Tôi đặt tên cho những ngôi chùa đó là chùa xép mượn cách gọi các ga tàu hẻo lánh nhỏ bé... Những ngôi chùa ấy có khi không có đến một chú tiểu giúp việc cho sư trụ trì. Nó buồn bã và thời gian ở đó cứ như muốn vón cục lại. Nhưng ở các chùa xép đó thực sự thanh tịnh và lắm khi tôi liên tưởng đến cõi niết bàn tại dương thế. Nếu một buổi chiều nào tình cờ đi qua một ngôi chùa xép đang gióng những tiếng chuông chiều tôi cứ ngỡ mình đang sống trong cõi mơ hồ xa xăm nào thời quá vãng. Nó như tiếng trống thu không vọng từ gác thành rêu xanh. Tâm hồn như được rửa sạch sẽ tinh khiết mà trần ai thì xa mù khơi...
   
Trên đỉnh Yên Tử tôi ao ước được một mình lặng yên nhìn ngắm những ngọn núi tít tắp nhìn ngắm mây chập chùng trong khi tâm trống rỗng. Đừng bàn chuyện thế sự (thế sự thăng trầm quân mạc vấn; Yên ba thâm xứ hữu ngư châu..."; đừng trăn trở cuộc đời (xử thế nhược đại mộng) mà điềm nhiên bước vào cuộc sống tránh những hệ luỵ càng nhiều càng hay; an nhiên tự tại học người xưa nhập thế mà yêu đời ngao du thiên hạ coi thường bả công danh; lấy thư thái làm trọng lấy lòng nhân mà đối đãi.
   
Như vậy là giác ngộ ư? Như vậy là đắc đạo ư? Như vậy là thành bồ tát ư? Không tất cả chẳng qua là sự khắc kỷ với mình và độ lượng cùng tha nhân. Nhưng nếu ai đó cười cợt thì tôi xin nói thêm rằng: Trên đỉnh Yên Tử tôi ao ước được như nhân vật trong truyện Kim Dung thong thả ngồi kẻ lại đôi mày cho em. Không có gì phải vội vàng cứ từ từ tô lại từng chút một đôi lông mày cho em dù thời gian phủ mây trắng trên tóc chúng ta...
   
Thế là mùa thu này tôi đã đến Yên Tử. Một Yên Tử của riêng tôi!

LƯU VỸ BỬU   


More...

SÀI GÒN BÂY GIỜ ĐÃ HEO MAY

By LƯU VỸ BỬU

Những chiếc bông dầu như cánh bướm
Rụng xuống vai người.
Mùa thu thổi nắng vào đôi mắt
Để lại sương mờ trên gương mặt em...

Lá vẫn xanh phong lan vẫn nở
Mùa thu không vàng nhưng hanh hao
Như em ngồi trong quán cà phê trên đường Lam Sơn
Che hết một phương nắng
Ủ một trời nhớ thương

Sài Gòn bây giờ đã heo may
Tình ta bây giờ đã hoá trầm
Lãng du quay về sầu lên thành cổ
Em và anh rêu xanh vừa.

Chẳng sao che hết những dấu giày
Em để lại trên hiên nhà chiều mưa
Mùa thu nở những đoá hồng muộn
Đốt cháy trái tim anh.

Sài Gòn bây giờ đã heo may
Lòng sướt mướt mưa bay
Ly cà phê buồn tẻ
Ai về qua đó không hay...

LƯU VỸ BỬU
10/2010

                                     

More...

CAO BẰNG: TÌNH QUÊ CAO VỜI VỢI

By LƯU VỸ BỬU


  
Thác Bản Giốc Cao Bằng

      1.Rời Ba Bể khi nắng thu chưa kịp trải vàng hết những núi đồi xanh. Xa xa các bản làng người Tày người Nùng nép mình dưới những bóng cây xanh thẫm. Ba Bể đẹp não nùng. Vẻ đẹp nguyên sơ hùng vĩ nhưng sao tôi cứ nhận thấy vẻ man mác u hoài ẩn đằng sau cứ bàng bạc trong lòng. Cảm giác này giống như tối qua khi nghe các cô gái bản Pác Ngòi ôm đàn tính hát những làn điệu dân ca Tày ca ngợi bản làng đổi mới. Lời vui người hát cười duyên nhưng sao giai điệu cứ trầm trầm buồn buồn làm người nghe nặng trĩu cả lòng. Tại cây đàn tính hay do làn điệu nó vốn thế? Tôi không hiểu thực sự không hiểu được! Nhưng tối hôm đó trong phòng khách sạn tôi chong đèn vì không ngủ được những con bướm ăn đêm thấy ánh sáng bay vào chấp chới cánh cứ khiến tôi nghĩ đến một thiên thai nào đó đang diễn ra trong đời thực này.
      Ba Bể với tôi không chỉ là địa danh một địa điểm du lịch một thắng cảnh mà còn là một huyền thoại một câu chuyện đầy thơ mộng ẩn khuất sau sóng nước xanh sau những núi đồi chập chùng kia chờ tôi khám phá. Cảm giác này y nguyên cảm giác lần đầu tiên đến Đà Lạt khi Đà Lạt vẫn còn là thành phố sương mù thành phố của các cô học trò Bùi Thị Xuân e ấp trong chiếc áo dài đi về theo những con dốc khoác áo len chiếc foulard mềm mại hững hờ ngang vai để những chàng trai mới lớn như chúng tôi đắm đuối trông theo. Ba Bể lúc này đã khiến tôi một gã cũng hết thời trung niên đang ngẩn ngơ tiếc nuối một cái gì không rõ thuộc về thời đã qua đang trỗi dậy. Tôi muốn giữ lấy muốn đi sâu vào từng góc cạnh của nó để tìm lại chính mình.

      2.Đêm Cao Bằng ngủ sớm. Đoàn khách từ phương Nam dường như lạc lõng giữa phố cao biên giới này. Trời mưa lất phất đường phố vắng vẻ dù chưa đến 8 giờ tối. Loay hoay mãi mà vẫn chưa tìm ra được một chỗ nào đó để chiêm ngưỡng mảnh đất quen tên nhưng lần đầu đặt chân đến này. Hỏi các cô gái chàng trai ở khách sạn Bằng Giang thì nhận được những câu trả lời nhát gừng. Những người trong đoàn một phần do mệt mỏi của chuyến đi dài hơn 130 cây số từ Bắc Kạn qua một phần do mưa ẩm ướt đã chọn cách ở trong khách sạn. Tôi và Diệm Thục ghé vào quán cà phê có màn hình ti vi dành cho những ai muốn hát karaoke. Quán cũng không có ai. Diệm gọi một chai rượu ngô một đĩa hạt dẻ nướng. Tôi kêu ly trà ngồi nhìn ra ngoài phố. Đèn vàng ảm đạm những người lỡ mưa bước vội trên hè phố. Đêm Cao Bằng có vẻ yên tĩnh và mang đậm nét một phố huyện chưa quen với những sinh hoạt về đêm. Hình dung của tôi về Cao Bằng khác hẳn những gì trông thấy. Cao Bằng trước mắt tôi to đẹp và ra dáng một đô thị; còn trong hình dung của tôi Cao Bằng như một thị trấn nằm nép mình bên những dãy núi xanh thân mật và bình yên.
      Ở Cao Bằng tôi được mời nếm thử món bánh cuốn. Ngon và cách ăn lạ nhưng tôi thích hai món khác: một là hạt dẻ nướng; hai là thịt heo luộc ăn với rau sống. Có điều người dân ở chợ Trùng Khánh cũng đã quen cách buôn bán với khách du lịch. Họ cũng nói thách cũng đáo để trả treo với khách chẳng kém mấy cô gái ở chợ Bến Thành. Còn ở thác Bản Giốc tôi được chiêu đãi món thịt heo bản vừa thơm vừa ngon có khi ngon hơn cả thịt heo ở Hiệp Đức Quảng Nam.

      3.Tôi biết thác Bản Giốc đã lâu tất nhiên qua sách vở trên truyền hình và trên cả những tờ lịch bày bán mỗi khi xuân về. Dù đã chuẩn bị tâm lý và anh chàng hướng dẫn viên vui tính nhiều lời cũng đã "nhắc nhớ" trước nhưng khi đối diện với thác Bản Giốc tôi cũng nghe bùi ngùi trong lòng. Mưa vẫn lất phất không đủ để ướt áo nhưng cũng làm mờ đi tầm nhìn. Những hạt mưa đọng lại trên mắt kính khiến tôi nhìn thác Bản Giốc bằng đôi mắt nhoà lệ. Một nửa thác đã thuộc về Trung Quốc éo le thay đó lại là phần đẹp nhất của thác. Chúng ta còn lại nguyên thác phụ và một phần thác chính. Nghĩa là từ nay trên các tờ lịch chụp phong cảnh đẹp của nước ta không thể có thác Bản Giốc nữa rồi. Hoặc nếu luyến tiếc một cảnh đẹp thì các nhà sản xuất cũng phải chú thích rõ chủ quyền của mỗi nước nếu không muốn bị đưa ra toà vì tội "xâm phạm lãnh thổ" (!?).
      Những người chèo tạm gọi là chống bè (tôi không biết gọi chính xác tên phương tiện là gì. Nó không giống cái bè cũng chẳng giống thuyền ghe) phục vụ du khách vượt qua thác để đến cột mốc chủ quyền. Cột mốc có số hiệu 836 (02). Nhiều người vây lấy cột mốc chụp hình kỷ niệm một lần đến tận biên giới nước ta thuộc tỉnh Cao Bằng và trong số họ không ít người thở dài bùi ngùi khi tình cảm thiêng liêng vốn có trỗi dậy trong lòng. Cảm xúc này còn gặp lại sau đó vài ngày ở cột mốc Hữu nghị quan cột mốc số 1116 Lạng Sơn và ngay ở cột cây số Hữu nghị. "Tôi yêu đất nước tôi từ khi mới sinh ra đời...". Thác Bản Giốc không biết vì mưa bụi hay chỉ còn một nửa mà vẻ đẹp hùng vĩ  của nó dường như phôi phai ít nhiều. Kỷ niệm lần đầu chạm mặt với Bản Giốc để lại trong tôi những tâm thế ngổn ngang...
      Rời Bản Giốc chúng tôi qua động Ngườm Ngao tiếng địa phương có nghĩa là Hang Hổ. Con động dài khá đẹp. Đặc biệt có hình hoa sen nở ngược kỳ lạ.
      Hai ngày ở Cao Bằng không đủ để hiểu và nói gì về thị xã cũng như tỉnh miền núi biên thuỳ này. Cái cảm xúc lớn nhất đọng lại trong tôi khi chuyến xe rời khỏi Cao Bằng và khi về lại Sài Gòn là tình quê cứ chực chờ trào dâng đọng lại trên đôi mắt...

LƯU VỸ BỬU


More...

ĐAO TO BÚA LỚN HOA SỮA VÀ...

By LƯU VỸ BỬU

      1.Thói quen dùng những từ ngữ "đầy ấn tượng" thay cho cách diễn đạt bình thường đang trở thành... dịch bệnh lây lan rất nhanh. Bắt đầu từ các văn bản mang tính chỉ đạo đến các cơ quan thông tấn báo chí rồi ảnh hưởng luôn đến các blog cá nhân. Ví dụ như các diễn văn của những người giữ chức vụ lớn của các cấp luôn được gắn thêm từ "quan trọng" vào sau từ diễn văn (đồng chí bí thư chủ tịch đọc diễn văn quan trọng) nhưng thực ra sau khi nghe (hay đọc) thấy chẳng có gì để gọi là... quan trọng cả. Cũng những từ ngữ "thành công  tốt đẹp" "thắng lợi rực rỡ" "phát triển vượt bậc"... (mà không ai đánh giá được mức độ "tốt đẹp rực rỡ..." ấy cụ thể thế nào). "Diễn văn quan trọng" ấy có khi chỉ "quan trọng" trong một góc hẹp nào đó thôi. Ngược lại thông điệp của người đứng đầu một cường quốc nào đó được cả thế giới lắng nghe theo dõi vì có khả năng tác động tới thì lại thông tin sơ sài. Trong cuộc họp chi bộ có bí thư đảng uỷ tham dự đóng góp ý kiến cũng được "lên gân": "Đồng chí bí thư đảng uỷ đã có những ý kiến quan trọng...". Ý kiến được cho là quan trọng ở đây cũng là những điều ai cũng biết ai cũng nghĩ ra cả! Suy cho cùng gọi như vậy để... nịnh là chính.
      Cũng như cách người ta gọi kẻ ăn cắp là "cố ý làm trái" gọi kẻ bất tài không làm được việc là "khả năng hạn chế" gọi kẻ tham ô lãng phí là "thiếu tinh thần trách nhiệm" ... Thói quen dùng từ "đao to búa lớn" để ca ngợi hay vùi dập một ai đó thể hiện tính xu nịnh hay "bắt chước" chứ thực chất nhiều khi nội dung tải trong đó còn ngược lại với suy nghĩ của chính họ. Tỉnh nói "quan trọng" thì huyện xã cũng phải nói "quan trọng" chứ không thể nói khác được. Có lần tranh luận với số đồng nghiệp về một câu khẩu hiệu mà ai cũng thấy câu này có thể sửa lại đơn giản và gọn ghẽ hơn nhưng chẳng ai dám sửa hay đề nghị sửa. Một người nói: "Do ở trên đưa xuống" nhằm kết thúc tranh luận.
      Thời gian vừa qua nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội cụm từ  "4000 năm văn hiến" cũng được nhắc đến nhiều nhưng tôi nhớ cách đây 50-60 năm và trước đó nhiều hơn thế nữa đã nghe nói đến "4000 năm văn hiến". Ai cũng nói từ lãnh đạo đến tổ dân phố từ các nhà sử học đến các cơ quan tuyên truyền nhưng không ai biết đất nước ta chính xác đã bao nhiêu năm văn hiến rồi. Cứ "4000 năm..." như thế mà phát ngôn như... mở băng ghi âm ra phát lại (!?).
      Người bạn tôi mở blog để "giao lưu văn nghệ" viết lời chào (hay slogan nhỉ?): "Ghi chép những trải nghiệm". Tôi vào đọc thì thấy hầu hết là thơ tình liền ghẹo: "Trải nghiệm tình à?". Bạn tôi cười trừ và... sửa lại thành "Ghi chép buồn vui" rồi sau đó là "Thích chi viết nấy"  nghe đơn giản và thấm vào lòng người liền.
      Theo tôi cứ gọi đúng bản chất sự việc cứ gọi đúng tên sẽ dễ nghe và... dễ hiểu hơn.

      2.Vừa rồi tôi về quê. Ngồi nghe những "sĩ phu" quê nhà bình luận chuyện thời sự. Trong vô số chuyện to có nhỏ có đáng lưu tâm có và thuộc loại "nghe qua rồi bỏ cũng có; có một chuyện liên quan đến một loại hoa. Đó là hoa sữa! Ở Hà Nội câu hát "Phố Quang Trung đường Nguyễn Du những đêm hoa sữa thơm nồng..." (Hoàng Hiệp) nghe lãng mạn tha thiết vô cùng. Bài hát này đã "tác động" đến tình cảm của những người yêu Hà Nội và hoa sữa được coi như một biểu tượng thanh tao quyến rũ của tình yêu thơ mộng. Có lẽ vì vậy mà thời gian vừa qua Tam Kỳ mang hoa sữa về trồng khá nhiều nhất là đường Huỳnh Thúc Kháng Phan Chu Trinh Hùng Vương... Lúc mới trồng thì ai đi ngang qua cũng nhìn với cặp mắt "ngưỡng mộ" mong ngóng một ngày cây sẽ cho hoa để đêm đêm "hoa sữa thơm nồng" khác gì Hà Nội! Rồi cuối cùng cây cũng cho hoa và khi hoa nở cả khu phố mới... bàng hoàng vì mùi hoa sữa. Người này thì kêu: "Nhức đầu quá đi!"; người kia thì lầm bầm: "Thúi không chịu nổi!"; người nọ than: "mùi gì ngửi không vô!". Thế là một đề nghị được đưa lên: "Yêu cầu chặt bỏ hoa sữa!". Lãnh đạo cũng "thấm đòn" mùi "hoa sữa thơm nồng" nên quyết định chặt bỏ.
      Hoa sữa cũng theo những "tâm hồn lãng mạn" vào đến miền Nam. Người bạn của tôi kể: "Lần đầu tiên được cầm một chùm hoa sữa và không dám... cầm lâu quăng liền không tiếc...". Từ thơ đến đời đúng là có một khoảng cách. Hoa sữa Hà Nội đến Tam Kỳ là chặng đường dài hơn 900 cây số đến tận miền Nam là gần 2000 km đã trở thành "đại họa". Và câu hát "hoa sữa thơm nồng" e rằng cũng bị mất đi chút... hương hoa quyến rũ.
      Cái "rập khuôn" bắt chước đã mang phiền nhiễu đến người dân. Đâu phải cái gì ở người ta hay người ta đẹp là cũng "hay" cũng "đẹp" với mình! Chính thói quen "làm theo" chẳng cần suy nghĩ đã làm hao tổn công sức người dân nhưng mấy ai hiểu được.
      Nghe đâu để "cứu một bàn thua" Tam Kỳ đang thay hoa sữa bằng một loại cây cũng được xem là đặc trưng của Tam Kỳ: cây sưa. Hồi còn trai trẻ tôi và bạn bè cũng như nhiều thế hệ khác không ai không một lần đặt chân đến rừng cừa. Gọi là rừng nhưng thực ra đó là con đường xuống phường một (bây giờ thuộc phường Hoà Hương) trồng nhiều cây sưa. Tôi nhớ ngay vườn nhãn gần sân vận động cũ (bây giờ không còn nữa) cũng có nhiều cây sưa. Sưa ra hoa màu vàng li ti rất đẹp. Nhưng mùa sưa trổ bông lại là mùa con người hay mệt mỏi lưởi ưởi nhất giống như bệnh thời khí vậy! Tôi không đủ kiến thức để đồng tình hay phản đối việc trồng cây sưa thay cây hoa sữa nhưng thấy chủ trương bắt người dân đóng góp tiền mua cây sưa để trồng nghe không ổn chút nào. Cái suy nghĩ muốn "lưu danh thiên cổ" hình như luôn hiện diện trong tâm trí những người lãnh đạo các cấp. Nhưng "phải có danh gì với núi sông" bằng tài năng trí tuệ của mình chứ "lưu danh" theo kiểu copy cut paste từ nơi này nơi kia về nơi mình hay bất chấp quy luật cứ dùng mệnh lệnh để thực thi cho bằng được điều mình muốn quả là điều đại họa (!?).

      3. "Một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội" không chỉ Hà Nội tổ chức mà hầu như cả nước đều làm. Và không phải diễn ra trong một tuần lễ mà làm từ nhiều năm trước. Từ tỉnh này đến thành phố kia; từ huyện này đến thị xã nọ; từ ngành này đến ngành khác đều cũng cố "gắn" cái mác "ngàn năm TL-HN" vào như thể nếu không có nó thì không tổ chức được vậy (!). Ngày Thơ Việt Nam địa phương nào cũng mang chủ đề "ngàn năm TL-HN" nhưng loay hoay cũng mấy bài thơ quen thuộc mở đầu "cho phải phép" rồi sau đó thì... thơ gì cũng được. Ngay cuộc thi nhan sắc tổ chức ở Quảng Ninh cũng là để "chào mừng 1000 năm TL-HN" cũng đủ để nói lên rằng chúng ta đã quen sống với hình thức quen với kiểu cách giả tạo và vẫn còn... cũ kỹ lạc hậu trong khi thế giới người ta đã đi rất sâu vào thực chất lấy việc phụng sự xã hội làm mục tiêu. Còn ở ta sau khi kết thúc lễ hội thì quanh hồ Gươm lại biến thành bãi rác khổng lồ. Những đường hoa mới đẹp đẽ đó đã vội tả tơi vụn vỡ dưới bàn tay con người. Hà Nội ngàn năm văn vật nếu chúng ta không gìn giữ không vun đắp thì chừng vài chục năm nữa khi những người từng gắn bó từng chứng kiến "Hà Nội trải qua những thăng trầm mà vẫn giữ được vẻ thanh lịch" không còn nữa thì lúc đó Hà Nội cũng chỉ là một đô thị một phố chợ - có thể sẽ phồn vinh - như những thành phố khác trong nước trên thế giới mà thôi.
      Tôi chợt nhớ đến câu hỏi đầy nỗi niềm: "Nếu không còn hồ Gươm hồ Tây thì Hà Nội sẽ ra sao?". Tôi muốn viết thêm ý này: "Nếu mất đi vẻ thanh lịch hào hoa thì Hà Nội sẽ ra sao?". Mỗi ngày chúng ta đón nhận thêm một công trình mới mẻ minh chứng cho sự phát triển. Đó là điều đáng mừng! Nhưng đáng mừng hơn là kho tàng văn hoá mà tiền nhân dày công vun xới không bị mai một theo từng giờ từng ngày.

LƯU VỸ BỬU

More...

TAM KỲ NGÀY VỀ

By LƯU VỸ BỬU

        1.Tam Kỳ đón tôi bằng những trận mưa như trút nước. Mưa nặng hạt và dai dẳng rất khó chịu. Anh chàng tài xế tắc xi chia sẻ: "Đoạn này như vậy là tốt rồi. Khu ngoài tỉnh nước ngập nặng lắm đến tắc xi cũng không chạy được!". Tôi cười buồn nghĩ đến những ngày sắp đến nếu cứ mưa như thế này thì việc tổ chức cúng mãn tang ba tôi khó trọn vẹn như ý. Những khu dân cư được quy hoạch xẻ ngang xẻ dọc ngổn ngang đất đá cỏ cây lúp xúp và nước đọng thành ao thành hồ. Không biết người ta quy hoạch như thế nào nhưng người dân bình thường chẳng chút kinh nghiệm chuyên môn nhìn thực trạng cũng lắc đầu ngán ngẩm: "Chỉ cần vài năm nữa sẽ trở thành những khu ổ chuột và ... kẹt xe!".
Quả thật những con đường "be bé xinh xinh" nơi trải nhựa nơi bê tông giao cắt  nhau như bàn cờ... tướng; xe vừa nhấc ga thì đã vội vàng buông ra và thắng gấp vì đã đến giao lộ. Có lẽ để nhanh chóng "đạt chuẩn" đô thị loại 3 nên Tam Kỳ đẩy mạnh việc mở đường thành lập các khu dân cư bất chấp quy luật cũng như khả năng vốn có. Lần trước về Tam Kỳ tôi được người bạn đưa đi xem những ngả tư... cụt. Nghĩa là cũng một ngả tư nhưng chỉ đi được 3 hướng; một nhánh còn lại chỉ là ngõ cụt (!). Nhưng bi kịch nhất là hệ thống thoát nước. Có nơi cống xả thấp hơn hồ chứa nên thay vì xả nước thì biến thành cống ngăn nước từ ngòai tràn vào. Còn hệ thống cống nước trên đường Phan Chu Trinh đoạn từ nhà thờ Tin Lành vào tới Kênh Hạnh nhuộm (tức kênh N4(?)) làm từng khúc rồi để đó chẳng nối được với nhau nên mỗi khi mưa xuống thì nước từ cống nếu không trào ra đường thì cũng chảy ngược vào nhà dân...

2.May mắn mưa cũng tạnh. Chiều hôm đó bạn bè biết tôi về rủ nhau đến quán cà phê Nguyên Hương trên đường Tôn Đức Thắng. Quán thiết kế khá xinh xắn cà phê không ngon lắm nhưng bù lại nhạc nghe được và góc nhìn khá đẹp. Ngồi với bạn bè ở quê tôi phát hiện ra một chi tiết thú vị: Nếu bạn bè ở Sài Gòn gặp nhau thường nhắc đến chuyện cũ chuyện hồi đi học hay chuyện quê nhà; còn bạn bè ở Tam Kỳ gặp nhau lại nói chuyện... thời sự. Đại hội tỉnh đảng bộ vừa xong thông tin ai trúng ban chấp hành ai rớt ai "cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng" ai trúng thường vụ và ai thuộc "vậy mà cũng trúng" cứ râm ran suốt buổi cà phê. Tôi ngồi nghe thi thoảng góp ý chứ xa quê lâu ngày nhớ chẳng bao nhiêu mà biết lại càng ít ỏi. Những cái tên lướt qua trí nhớ có khi gợi lên một cái gì xa xưa không hình thù; có khi như một cái gì đó xa lạ. Nhưng tôi dù không muốn phá vỡ không khí êm đềm của một buổi chiều mùa thu mưa vừa tạnh trời vừa hửng nắng quanh bạn bè thân thiết nhưng cũng phải thở dài khi nghe thông tin cậu O. một nhân viên cũ trước đây đã không nghe lời tôi khuyên nên đi học thêm vì văn hóa còn quá thấp nay đã có bằng đại học dù thời gian đi học có thể đếm trên đầu ngón tay (!). Một cậu khác lấy bằng tốt nghiệp bổ túc văn hóa và bằng đại học trong vòng 3 năm (?). Bạn tôi quả quyết bằng của họ là bằng thật. Tôi cũng không nghi ngờ gì về điều đó nhưng cũng khẳng định họ học không thật. Nếu có ai đó cắc cớ kiểm tra kiến thức chắc chắn họ sẽ mỉm cười vì cái bằng và kiến thức không "đi đôi" với nhau. Một người bạn khác "can thiệp" nhằm ngăn chặn cái thở dài của tôi: "Đâu chỉ có những người này! Ngay ở Sài Gòn tớ cũng tin rằng nhiều vị có bằng cử nhân thạc sĩ hẳn hòi nhưng không làm được phép tính khối lượng. Điển hình là các "hố đen" trên đường đó. Một cái hố nguời ta không tìm ra được cần bao nhiêu mét khối cát đá để lấp cho đầy khiến xe phải sụp hầm sụp hang   chẳng phải ư?" (!?).

3.Trời không phụ gia đình tôi. Nắng đẹp bà con họ hàng và bạn bè của gia đình tôi tới dự lễ mãn tang ba tôi rất đông ngoài dự kiến của anh chị em tôi. Đã hai năm ba tôi đi xa nhưng anh chị em tôi vẫn chưa "quen" với thực tế chưa nguôi quên cảm giác thiếu vắng ông. Tôi tin rằng không chỉ anh chị em tôi cảm nhận được mà bất kỳ ai khi vắng cha vắng mẹ đều có chung nỗi niềm này. Dẫu ba tôi trong những năm cuối đời cũng không phải là người quyết định mọi điều liên quan đến chúng tôi nhưng có ông ngồi đó nghe chúng tôi bàn bạc thảo luận... thâm tâm anh chị em tôi vẫn thấy yên lòng. Nay không còn ông cảm giác trống vắng không ngừng lan rộng tạo nên một khoảng không khiến anh chị em tôi hụt hẫng. Phải nói ba tôi mất đi như nhiều người cha khác chúng tôi mất đi một chỗ dựa một chỗ về và đặc biệt là cảm giác sợi dây liên kết giữa anh chị em tôi giữa gia đình tôi với bà con họ hàng giữa thế hệ ba tôi vời những thế hệ sau đó dường như bị đứt đi; hoặc bị đe dọa đứt đi... Vì thế nhìn bà con từ Hội An từ Đà Nẵng vào lòng tôi rưng rưng. Cả cuộc đời ba tôi ngoài việc mưu sinh nuôi 8 chị em tôi ông dành thời gian lo cho cả dòng họ mà ông là người được coi là trưởng tộc của đời thứ 19. Ông đi tìm bà con thất lạc trong chiến tranh truy tìm nguồn cội quy tập trùng tu mồ mả ông bà tổ tiên. Công việc thầm lặng ấy được ông toàn tâm toàn ý nhất là thời gian cuối đời để lo toan nên khi ông mất đi nhiều cô chú tôi đã phải lo lắng là không còn ai kế thừa công việc vốn dĩ phức tạp và đòi hỏi sự kiên trì bền bỉ này...

4.Vài ngày nữa tôi về lại Sài Gòn mang theo những nỗi niềm nặng trĩu trong lòng. Tam Kỳ bây giờ thay đổi nhiều. Cuộc sống nhìn từ bên ngoài thấy đầy màu sắc và âm thanh nhưng phía sau nó là những nốt nhạc trầm buồn bã là những gam màu xám xịt đến não lòng. Phía sau nhà ba tôi trước đây là những cánh đồng bạc màu nhưng là nguồn sống của nhiều gia đình. Giờ đây nó đã biến thành những ô vuông nhỏ bé là nơi ở mới của những người khác. Những ngôi nhà đang mọc lên cao thấp nhấp nhô thụt vào thụt ra tùy hoàn cảnh sở thích của từng gia đình. Tam Kỳ đang và sẽ có những cao ốc những khu dân cư mới... những tiêu biểu cho một đô thị hiện đại nhưng có đi sâu vào từng ngóc ngách mới thấy sự phồn vinh đó không được xây dựng trên nền tảng vững chắc. Một cái gì đó khiến người ta cảm nhận sự tạm bợ chênh vênh trong đó. Những quán cà phê mở dọc theo các tuyến đường mới mở. Các quán nhậu cũng phát triển theo. Tất cả vừa gợi lên sự ồn ào náo nhiệt của một đô thị nhưng đồng thời lộ rõ một cuộc sống đầy rủi may bất trắc. Tam Kỳ của tôi đã phôi phai nhiều. Cái hồn của thị xã nhỏ bé dễ thương này đang bị cái thành phố khoát lên những mỹ miều phồn hoa xa lạ. Bên cạnh nhà ba tôi là trường phổ thông trung học Phan Bội Châu. Nhìn những cô cậu học trò hôm nay đến trường tôi không sao tìm thấy hình ảnh của tôi và bè bạn. Cũng là học trò nhưng ngày trước chúng tôi hồn nhiên thơ mộng biết bao; còn bây giờ cũng áo dài trắng quần xanh nhưng trông lớp con cháu này có dáng vẻ của một người đi... mua chữ chứ không phải đi học (!). Mai này khi tạm biệt Tam Kỳ tôi biết mình sẽ buồn và có thể tôi sẽ khóc vì biết rằng tôi đã mất đi một điều quý giá nhất trong đời một con người.
      Và tôi cũng không rõ người bạn thân của tôi LĐC có nhận được "quyền lợi" của mình đã góp phần trong công trình đồ sộ "Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng" dày 1800 trang không nữa!

LƯU  VỸ BỬU

More...

LẶNG IM HÀ NỘI

By LƯU VỸ BỬU

Lộc vừng tím đỏ
Trong mắt em nâu
Biết đi về đâu
Chiều thu nắng muộn

Gieo trong màu cốm
Một chút heo may
Một giọt sương bay
Gửi vào hương nhãn

Xin em bước chậm
Qua cửa ô xưa
Rêu đang xanh vừa
Mênh mông mùa cũ

Đâu cần liễu rũ
Chẳng cần sóng xanh
Một chút tơ mành
Thiết tha Hà Nội

Vén màn sương khói
Hà Nội của anh
Long lanh long lanh
Tiếng chuông chậm rãi

Xin em ngoái lại
Thu đang đến gần
Anh đang đến gần
Lặng im Hà Nội.

LƯU VỸ BỬU
(tháng 9.2010)              

More...

THU CHẠM VÀO BA BỂ

By LƯU VỸ BỬU

 

      Đêm mùa thu ở Ba Bể (và có thể những mùa khác cũng vậy) yên tĩnh lạ thường. Sau buổi giao lưu văn nghệ với các cô gái sơn cước đến từ bản Pác Ngòi là mục nướng cá suối lai rai với rượu ngô và rượu... Tây. Mặc dù cá suối ở đây ngon chẳng kém gì cá Niêng ở miền núi Quảng Nam nhưng đám rượu cũng nhanh chóng tàn. Uống rượu bên than hồng của đêm lửa trại có những thú vị riêng nhưng dưới ánh trăng non sương giăng mờ mờ trên dãy núi sự ồn ào của "tục tửu" e không thích hợp.
      Tôi không uống được bia rượu. Lúc này tôi ao ước có được một ấm trà và một vài người bạn. Ngồi đó chẳng cần nói năng gì chỉ lẳng lặng nghe sương đêm len lén thấm vào người; lẳng lặng cảm nhận hương núi rừng xua đi những bụi bặm phố phường;... Chỉ vậy thôi là cuộc sống trở nên nhẹ tênh. Mà quả thật khi đặt chân đến hồ Ba Bể sự mệt mỏi của quãng đường dài 250 km từ Hà Nội lên đến đây nhanh chóng tan biến trong tôi.
      Đêm ở Ba Bể lung linh như trong huyền thoại xa xưa. Trăng non chênh chếch trong sương mờ. Cảnh vật yên ắng không một âm thanh không một bóng người. Cái thinh lặng không làm người ta thấy lẻ loi cô độc mà gợi lên những thi vị những bềnh bồng của cảm giác gặp lại người tình đầu sau mấy mươi năm bặt tin... Tôi ngồi trên lan can nhìn ra. Bây giờ thì khó phân biệt được núi rừng. Một màu xanh đen dưới ánh trăng nhạt nhoà khiến tôi liên tưởng đến cảnh vật trong câu chuyện Từ Thức gặp tiên... Bất giác nhớ đến câu hát "...mây mờ buông xuống núi đồi và trong lòng mơ hơn cả ngoài trời. Cỏ cây hoa lá thương nhớ mãi người đi và dâng sầu lên mi mắt người về..." của bài hát Nụ cười sơn cước quen thuộc.

oOo

      Tôi rời khỏi giường trời vẫn còn tối. Tôi vốn mất ngủ dù chuyến đi dài khá mệt mỏi. Nhưng cái ao ước muốn là người đầu tiên nhìn bình minh mới thực sự làm tôi thêm khó ngủ. Tôi mở cửa bước ra ngoài. Trời se se với tôi là mát mẻ nhưng với những người bạn đồng hành từ phương Nam nắng gió thì chắc cần thêm một chiếc khăn quàng cổ hay áo khoát mỏng. Tôi nhìn lên khoảng không những dãi mây vắt ngang các sườn núi mỏng mảnh vừa đủ để nhìn thấy những rừng cây xanh mờ mờ ẩn hiện phía sau. Mỏng mảnh vừa đủ để cảm nhận rằng giữa cuộc sống thực còn có một thiên đường dành cho những người lương thiện tìm thấy niềm vui.
      Có thể nói bấy giờ chỉ một mình tôi với thiên nhiên Ba Bể. Những người bạn đồng hành nếu không say ngủ thì cũng nấn ná trên giường chưa muốn ra khỏi phòng. Tôi men theo đường mòn đến khu vực nghiên cứu thảm thực vật của vườn quốc gia Ba Bể đã bỏ hoang hương lá rừng ẩm mục sương khói và mây quấn quýt những sườn núi tạo thành một bức tranh thuỷ mặc không nằm trên khuôn vải mà hiển hiện trong tầm mắt. Tôi leo lên tầng thượng của quán cà phê vẫn còn đóng cửa. Những chiếc ghế đẫm ướt sương đêm nằm lẻ loi vì có lẽ cũng khá lâu ít ai đến đây. Từ sân thượng lộ thiên này nhìn tứ bề đều là núi tôi mặc sức tận hưởng quà tặng của thiên nhiên. Bất giác tôi thầm cám ơn những khách du lịch chưa đến đây và không muốn đến đây. Bởi nếu có dấu vết của họ Ba Bể rồi cũng trở thành Sapa trở thành Đà Lạt hỗn độn và tục luỵ.
      Buổi sáng mây thu bàng bạc trên tầng không lòng người thư thái và những cảm giác bình yên tự tại đến một cách tự nhiên như thể mở cửa phòng khách sạn chúng ta chạm mặt với một thế giới khác xa lạ nhưng quen thuộc gần gũi lạ kỳ.

oOo

      Ngồi trên thuyền xuôi theo dòng sông Năng. Nước từ nguồn đổ về đỏ ngầu phù sa. Con sông chạy giữa hai bờ núi thấp thoáng những bản làng người Tày ẩn hiện. Tự nhiên tôi chợt nhớ đến bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: "Người đi Châu Mộc chiều sương ấy; Có thấy hồn lau nẻo bến bờ; Có nhớ dáng người trên độc mộc; Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa....". Tại sao nhớ thì không giải thích được! Chắc cũng vì những chiếc thuyền độc mộc nằm chơ vơ bên bờ sông? Hay những mái nhà tranh nho nhỏ nép bên triền núi? Hay dòng nước lũ... Mỗi thứ một chút như từng màu sắc để tạo nên bức tranh như từng nốt trầm bổng tạo nên giai điệu...
      Tôi cũng may mắn được đến nhiều nơi nhưng chưa nơi nào tạo cho tôi cảm giác sảng khoái mà êm đềm mãn nguyện mà tiếc nuối như Ba Bể. Ba Bể nên thơ nhưng không chỉ có câu chuyện thần tiên mà còn có sự hùng vĩ của núi rừng. Cảm giác choáng ngợp ấy cứ đeo đẳng theo tôi và có lẽ sẽ còn nguyên vẹn những rung động ấy nếu cô gái hướng dẫn đừng quá nhiệt tình "bắt" chúng tôi phải đến tham quan thác Đầu Đẳng phải ghé nhìn Ao Tiên phải viếng đền An Mã. Thác ao và đền thì quá quen thuộc dù đó là cái ao nằm trên  núi và người ta kể rằng nơi đây ngày xưa tiên thường xuống tắm. Bây giờ thì tiên không có người trần cũng chẳng ai đến đây tắm tiên cả dù quang cảnh vẫn còn khá đẹp. Nhưng với tôi cứ dong thuyền chầm chậm trên Ba Bể im lặng thả hồn theo lớp lớp mây trắng phơi trong sắc nắng vàng ong ong của mùa thu đến muộn để hồn quấn quýt mãi "chẳng về xuôi...".

oOo

      Nếu lúc này ai hỏi tôi muốn gì chẳng ngẩn ngại tôi sẽ nói liền: "Xin giữ nguyên Ba Bể như vậy!". Ích kỷ? Có lẽ vậy nhưng những gì trông thấy tôi sợ Ba Bể rồi đây chỉ còn lại cái tên. Thay vào đó là sự ồn ào xô bồ và cả nhếch nhác nữa. Những điều đó sẽ xoá đi điệu đàn tính buồn buồn sẽ làm mất đi những giọng trầm trầm của các cô gái hát then...

LƯU VỸ BỬU

Tháng 9/2010

More...