NGHĨ VÀ VIẾT

By LƯU VỸ BỬU

 

LAN MAN CHUYỆN CŨ

      Năm nay là năm thứ 2 những nhà giáo "mất dạy" quê Quảng Nam đang sống tại Sài Gòn không tổ chức họp mặt nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam. Năm ngoái những ngày này tôi phải về quê chịu tang cha. Bạn bè có lẽ ái ngại với nỗi đau của tôi đã không tổ chức gặp nhau như mọi năm. Năm nay thì không rõ vì sao! Có thể những "đầu tàu" như Trương Duy Diệm Phan Thị Diệu... người thì bận rộn người thì ở xa không ai đứng ra "gánh vác" cả. Cũng hơi buồn! Nhưng có lẽ như thế hóa hay vì những cuộc gặp mặt sau này ý nghĩa ban đầu cũng đã phôi phai ít nhiều.

      Cuộc họp mặt đầu tiên vào năm 1992 khi đó có 6-7 người. Cũng bày trò ăn uống và chủ yếu là... nhắc chuyện đi dạy ngày xưa. Dần dà số lượng người tham gia càng đông có năm lên đến 70-80 người. Nhớ lại khi đó mới thấy "kinh hoàng" vì số lượng các người từng đứng trên bục giảng phải "tha phương cầu thực" chỉ tính riêng Tam Kỳ thôi cũng đã lên đến cả trăm. Một con số đáng buồn!

      Tôi chọn nghề dạy học thú thật không phải vì yêu nghề mà chính là để khỏi phải đi lính. Khi học phổ thông tôi ao ước trở thành luật sư. Ngoài ra còn thích một nghề nữa là tài xế chỉ vì thích được đi đây đi đó. Tất nhiên nghề tài xế thì không được gia đình ủng hộ vì "danh tiếng" tài xế đã làm ba mẹ chị em tôi "sợ hãi" rồi! Còn học luật thì mẹ tôi thích nhưng vẫn lo vì lúc ấy sinh viên trường luật không nằm trong danh sách được "hoãn dịch vì lý do học vấn". Thế là nghe lời mẹ tôi khăn gói ra Huế thi vào trường Đại học Sư phạm. May mắn tôi thi đậu. Vừa buồn vì bạn bè tôi sau đó vào Sài Gòn học hết; vừa tự hào là mình là một trong số rất ít người đậu vào trường đại học danh tiếng này.

      Sau ngày 30/4/1975 tôi nộp đơn đi dạy. Do "hay cãi" nên sau khóa bồi dưỡng chính trị cấp tốc tôi bị "đì" ra tận xã Bình Quý huyện Thăng Bình. Đó là sau này tôi nghe bạn bè kể lại chứ khi ấy đi đâu cũng được. Sức trẻ tràn đầy nhiệt huyết sá gì xa nhà vài chục cây số! Trường cấp 2 Bình Quý nằm gần ga Phú Can mới thành lập phải lấy trường tiểu học cũ để làm trường và thiếu giáo viên rất nhiều. Tôi nhớ khi đó vừa được phân công làm Thư ký Hội đồng phụ trách Tổ Xã hội tôi còn phải dạy Văn Anh văn Pháp văn và cả Lịch sử nữa. Ban ngày dạy cho học sinh từ các nơi khác trở về quê vì khi đó trường cấp 2 Bình Quý phải nhận luôn học sinh từ các xã Bình Trị Bình Định và có một vài em ở Bình Lâm (Việt An bây giờ) qua học. Trong chiến tranh đây là vùng trắng nên khi hòa bình người dân mới trở về quê cũ sinh sống. Tôi nhớ nhiều học sinh nữ đi học còn mặc áo dài trắng (còn lại từ trước) gọi thầy xưng con. Ban đêm dạy bổ túc cho cán bộ chủ chốt của xã. Cực nhưng vui lắm.

      Sau đó tôi được điều về trường Cấp 2 Tam Thành thuộc huyện Tam Kỳ. Ở đây thì công việc có nhàn hơn nhưng không vui bằng ở Bình Quý. Tại đây tôi làm quen với một thầy giáo từ "miền Bắc xã hội chủ nghĩa" chi viện cho ngành giáo dục Quảng Nam. Đó là anh Nguyễn Văn Dinh quê ở Hậu Lộc Thanh Hóa. Anh Dinh hiền lành ít nói được phân công làm Trưởng ban điều hành (tương đương với Hiệu trưởng) nhưng hầu như ít quan tâm đến chuyên môn. Anh thích viết báo và khoái nhất là tối tối ngồi uống trà hỏi chuyện miền Nam trước 30/4.

Kết thúc năm học tôi lại được điều về trường cấp 1-2 Tân Thạnh. Về đây ngoài chuyên môn tôi được giao thêm làm công tác Đoàn Đội. Ở Tân Thạnh tôi thích nhất là chiều chiều cùng với học sinh của mình ra quảng trường quần nhau với trái banh. Thầy trò đá banh không khoan nhượng nhiều lúc bị kềm chặt quá tôi nói đùa: "Ngày mai thầy kiểm tra bài em vì tội kềm thầy chặt quá!".

      Không hiểu tôi sinh ra có nhằm sao... "đi" không mà hết năm học tôi được Phòng Giáo dục Tam Kỳ gọi về động viên nhận nhiệm sở ở Tam Dân. Tôi chưa biết giải quyết thế nào vì thấy mình như dân du mục cứ mỗi năm một trường không sao ổn định được thì T. bạn tôi rủ: "Về Tam Dân đi!". Té ra T được cử làm Hiệu trưởng nên rủ tôi về cho vui. Tôi nhận lời!

      Tôi không ngờ chỉ một cái gật đầu đơn giản đã níu tôi lại với mảnh đất này đến 5 năm trời! Những ngày đầu về trường tôi dạy cả 3 ca. Sáng trưa chiều mà ca nào cũng 4-5 tiết. Mệt đến độ tới bữa cơm không sao ăn được. Đến hết học kỳ 1 có giáo viên tăng cường về. Tưởng may hóa ra còn mệt hơn. Lúc đó do ngành giáo dục phát triển nhanh quá xã nào cũng muốn có trường cấp 2 nên thiếu hụt giáo viên nhiều. Để chữa cháy không biết "sư phụ" nào nghĩ ra kế sách đưa học sinh tốt nghiệp lớp 10 (hệ 10 năm) đào tạo cấp tốc 2 tháng rồi phân bổ về các trường. Số giáo viên thầy không ra thầy mà trò cũng không phải trò khiến chúng tôi mệt hơn.

oOo

      Công bằng mà nói năm tháng dạy ở Tam Dân đã để lại cho tôi những dấu ấn không thể nào quên được. Những niềm vui nối tiếp nhau trong bao khó khăn cùng cực đã giúp tôi nhìn rõ mình hơn. Tôi bắt đầu mở mắt để nhìn cuộc sống dưới những giác độ khác nhau. Tôi thực sự thoát ra cái gọi là tháp ngà của mình. Lần đầu tiên tôi hiểu được đồng bào mình đã sống khổ sống sở như thế nào! Lần đầu tiên tôi chứng kiến thái độ khao khát học tập ý chí vươn lên của học trò mình. Tôi cũng hiểu và nhận được tinh thần tôn sư trọng đạo của những người dân ở đây. Tôi tự nhận mình trưởng thành rất nhiều...

      Tam Dân với tôi có quá nhiều kỷ niệm có quá nhiều chuyện để viết và viết cả đời cũng không sao hết được. Chuyện nhỏ như cô học trò nhỏ một tối đưa tôi đi thăm nhà phụ huynh trời mưa tiếng ểnh ương ồm ộp khắp nơi. Cô bé hỏi tôi: "Thầy ơi sao con ểnh ương kêu tiếng già khằn vậy?". Lần đầu tiên ông thầy giáo sinh ra lớn lên ở thị xã được nghe một nhận xét vừa hóm hỉnh vừa chính xác đến vậy! Chuyện lớn như một tối tôi đang ngồi chấm bài thì có tiếng kêu "thầy ơi!". Ra mở cửa thì thấy L. cô học trò lớp 9 đứng nép bên cửa. Qua ánh đèn dầu tù mù tôi thấy có bóng người thấp thoáng phía sau. L. học trò tôi có hoàn cảnh rất đáng thương. Nhà chỉ còn 2 mẹ con và trong một lần tôi đến thăm mẹ của em L. cho biết căn nhà này là căn nhà thứ 11 của hai mẹ con. Nhà sau cứ nhỏ hơn nhà trước. Tôi đoán là L. đi với mẹ nhưng quá bất ngờ khi thấy hai mẹ con "tay xách nách mang" và sau khi chào tôi hai mẹ con lui cui bày ra bàn một chai rượu một đĩa trầu cau. Mẹ của L. đứng nghiêm trang chắp 2 tay ấp úng nói: "Thưa thầy hôm nay mẹ con tôi đến xin thầy cho phép em L. đi lấy chồng...". Tôi chỉ là ông thầy trẻ tuổi non nớt nhưng được đối xử như một thầy đồ già ngày trước. Tôi bối rối và cảm động đến khóc được. Thực ra trong số học trò ở Tam Dân ngày trước có những em học sinh còn lớn tuổi hơn các thầy cô. L. học lớp 9 nhưng tôi biết em chỉ kém tôi chừng 2-3 tuổi là cùng. Việc em lấy chồng cũng chẳng ngạc nhiên nhưng thái độ của hai mẹ con mới làm tôi kinh ngạc! Hồi dạy ở Tam Dân tôi cũng được vài lần mời dự đám cưới học trò mình và lần nào cũng được mời ngồi ở bàn vinh dự nhất.

      Còn rất nhiều chuyện nữa ở Tam Dân. Nhưng có chuyện này tôi muốn viết lại vì nhân ngày 20/11. Trong suốt thời gian dạy học tôi cũng thường hay nhận được những món quà từ học trò và phụ huynh. Quà thuở ấy đơn giản lắm và không nhất thiết phải đợi đến ngày 20/11. Chủ yếu là mùa nào thức ấy. Nếu thu hoạch khoai lang thì quà là khoai; nếu mùa gặt thì đó là vài lon nếp mới. Nhưng trong dịp 20/11 tôi nhận được món quà hết sức đặc biệt. Đó là một chai nước mắm. Một chai nước mắm trong thời bao cấp đáng giá như chai rượu ngoại bây giờ. Nhưng không phải giá trị vật chất mà cái chính là tấm lòng của phụ huynh đối với tôi. Họ thấu hiểu nỗi vất vả của các thầy cô giáo khi chứng kiến chúng tôi ăn cơm độn sắn lát với nước muối dầm ớt. Thực ra khó là khó khăn chung nhưng riêng tôi do gia đình quan tâm chăm sóc nên cũng không đến nỗi nào. Tôi nhận chai nước mắm và cất kỹ trong góc tủ cho đến dịp tết để mang đến tặng lại cho gia đình em. Món quà không bao giờ quên của những tháng năm đứng trên bục giảng...

oOo

      Hôm nay tôi nhận được nhiều tin nhắn từ các học trò cũ. Cũng là những lời chúc sức khỏe là những lời bày tỏ tình cảm nhưng đó là hạnh phúc lớn của tôi. Tôi thấy mình giàu có hẳn lên. Học trò tôi nhiều em thành đạt về chức phận và tiền tài. Nhưng cũng có nhiều em sống vất vả thiếu thốn. Tuy nhiên mỗi lần gặp lại em nào cũng vui vẻ cũng không nhớ mình là ai làm gì. Tôi cũng vậy thấy mình vẫn còn nguyên là thầy giáo ngày trước...

      LƯU VỸ BỬU


More...

NHỮNG NGÀY TÔI SỐNG

By LƯU VỸ BỬU

 

THÁNG 11: GIÓ THỔI QUA HỒN


1.
Đầu tháng 11 tôi về Tam Kỳ. Thấm thoát ba tôi đi xa đã tròn năm. Dấu vết cơn bão số 9 vẫn còn khá rõ trên những cánh đồng ngập nước trên những vườn cây xơ xác gãy đổ. Trời lúc mưa lúc tạnh con đường lởm chởm ổ gà khiến lòng vốn hoang mang lại thêm rối rắm. Mỗi lần về quê cái cảm giác ngộp thở và lâng lâng cứ tràn lên trong lòng. Những buồn vui luôn khuấy động theo từng tên đất tên người. Khi đi ngang qua ngả ba Vĩnh Điện - Hội An tôi bồi hồi nhớ lại cách đây cũng hơn 20 năm tôi và ba tôi từ Hội An về Tam Kỳ bằng xe gắn máy ba tôi chỉ cho tôi con đường tắt chạy men theo những cánh đồng thơm mùi rạ mới. Con đường này ba tôi đã đi rất nhiều lần từ ngày tiêu thổ kháng chiến rời Hội An để về vùng tự do. Hôm đó ba tôi nói: "Con đi để biết thêm!". Bây giờ tôi mới nghĩ ra để tôi biết thêm là một cái cớ còn một nguyên nhân khác nữa mà ba tôi không nói. Đó là ông muốn đi lại những vùng đất mà ông đã từng gắn bó mỗi khi có dịp. Cũng vì thế mà mỗi lần "chạm" đến những gì ba tôi để lại tôi lại "chạm" đến những thiêng liêng nhất trong cuộc đời ông. Hình như với tôi ba tôi luôn là một dấu ấn không thể phai mờ... Tôi về đến nhà trời đã quá trưa. Mẹ tôi gầy gò ngồi trên chiếc ghế dài mắt cứ ngóng ra cửa. Bà chờ đợi tôi như mọi khi biết tôi về. Câu đầu tiên bao giờ vẫn là: "Con ăn cơm chưa?". Tôi nắm chặt vai mẹ. Mẹ ốm đi rất nhiều. Tôi trả lời mẹ: "Con chưa ăn nhưng cũng không đói. Con rửa mặt thắp hương cho ba đã...". Bàn thờ ba vẫn vậy nhưng hôm nay có thêm một kỷ niệm của ba. Đó là tấm bằng Huân chương chiến công hạng 3. Trên đó ghi rõ tên ba tôi với chức vụ Trung đội trưởng Trung đoàn 93. Bằng này được ký cấp từ ngày 04 tháng 3 năm 1958 và tôi không biết được trao cho ba tôi từ khi nào. Đứa cháu gọi tôi bằng bác ruột nói: "Con tìm ra và đặt lên đây cho ông nội". Tự nhiên trong đầu tôi hiện lên hình ảnh ba tôi trong bộ quân phục vệ quốc đoàn với những địa danh quen thuộc thân thiết: Khánh Thọ Cầu Chìm Việt An ... Và ba tôi với nụ cười rất tươi...

2.Cũng thời điểm này tôi nhận thêm một tin buồn. Đứa em gái con chú ruột tôi giận chồng nông nổi hủy cuộc sống của mình. Anh chị em trong gia đình bạn bè của em những người thân quen ai cũng vừa thương vừa giận em. Em có tình tình xởi lởi sống hết lòng với bạn bè với anh chị nhưng lại là người hay tự ái khá bướng bỉnh. Em chịu khó làm việc và làm giỏi nhưng lại không biết tích lũy nên cuộc sống chìm nổi không ngừng. Tôi cũng nhiều lần góp ý thậm chí nặng lời với em nhưng chưa bao giờ ghét bỏ em. Em đi ngay lúc tôi về! Không biết đó là "số phận" dành cho tôi được gặp em lúc cuối đời hay không nhưng chắc chắn nếu tôi không về Tam Kỳ dịp này thì ngày em đi xa tôi không về được. Một điều đau xót là tất cả mọi người đều phải giấu không cho mẹ tôi và mẹ em biết chuyện này. Mẹ tôi và mẹ em như những ngọn đèn leo lắt sợ hai bà không chịu nổi! Chúng tôi bàn chuyện với nhau phải nhìn trước nhìn sau nói xa nói gần để hai bà không nghi ngờ. Nhưng liệu giấu đến khi nào thì không ai biết được. Tội nghiệp em và tội nghiệp cho mẹ tôi cho thiếm tôi... Cái chết của em thêm một lần nữa khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về số phận con người. Sống cho đúng ý nghĩa một con người không dễ dàng chút nào và cái chết đến với mọi người đơn giản như ngồi uống một ly cà phê ăn một bữa cơm. Nhìn dòng người đưa tiễn em tôi càng xót xa và càng thấu hiểu được một điều là đến khi nhắm mắt xuôi tay đến khi không còn nhận biết gì nữa ta mới biết được khi còn thở ta đã sống như thế nào. Khi biết được cũng là lúc ta không còn cơ hội để sửa chữa sai lầm. Vì thế hãy đừng để mình phải hối tiếc ngay khi mình còn đứng dưới mặt trời. Tôi nhìn ra ô cửa sổ máy bay mây trắng lớp lớp tôi tự nhủ hãy sống và yêu thương mọi người.

3.Cuối cùng em cũng quay về. Con chim muốn tách khỏi đàn để tự do bay nhảy theo ý mình đã đuối sức. Khoảng trời tự do ngoài kia không có chỗ cho em. Nói đúng hơn chỉ ưu ái với em một đoạn đường bay đủ để em nhận ra rằng không phải bầu trời nào em cũng có thể vươn cánh bay theo. Sự ngây thơ cả tin lẫn bướng bỉnh của em chỉ đủ để người khác "ngạc nhiên" một chút thôi. Và ngay cả em sau một vài chặng đường bay em cũng tự biết sức mình tự biết bầu trời của mình ở đâu. Em quay về lặng lẽ. Tôi cũng biết trước sau gì cũng có ngày này. Tôi không ngạc nhiên không vui mừng. Ngược lại tôi càng áy náy và lo lắng hơn. Bởi tôi hiểu em hơn ai hết. Em chịu đựng giỏi nhưng ít khi chịu nhún mình. Chính điều đó khiến em gặp nhiều thất bại. Từ lúc biết em tôi luôn ngạc nhiên khi em rất ít bạn. Những người bạn tưởng chừng sẽ gắn bó thân thiết với em rồi sẽ trở thành người xa lạ. Cuộc sống chính của em bao giờ cũng là ngôi nhà của em. Em có thể vui chơi đâu đó nhưng trước sau gì em cũng quay về. Bởi chỉ có nơi đó em mới sống thực với mình mới tạo cho em sự bình yên tạo cho em sức lực sinh tồn. Em mạnh mẽ biết bao dưới ngôi nhà đó và vì thế tôi yêu em. Tôi nhận ra điều này từ lâu và âm thầm chiêm nghiệm. Em sẵn sàng vứt bỏ tất cả để vun vén ngôi nhà của mình. Lặng lẽ quay về đôi mắt đầy lo âu nhưng gương mặt cứ hếch lên như xưa nay vẫn vậy. Tôi cũng nhận ra sự mệt mỏi trong bước em đi trong cách em nói dù em cố gắng che giấu. Ngồi với nhau tôi hỏi em: "Thấm mệt chưa?". Em gật đầu nhưng vẫn bướng bỉnh: "Chưa!". Tôi hỏi tiếp: "Quên hết chứ!". Em lại gật đầu nhưng vẫn lì lợm: "Cần phải quên hay sao?". Nhưng sau đó em mail cho tôi như muốn khóc: "Tất cả chỉ là những phút giây rong chơi. Tất cả rồi sẽ rơi vào quên lãng. Đừng nói gì với em lúc này nghe anh...". Em là vậy đó luôn muốn giấu mình!

4.Trước khi về lại Sài Gòn tôi ngồi với Thục Ngại và Cương ở quán cà phê bên dòng sông Tam Kỳ. Bạn bè gặp nhau biết bao nhiêu chuyện để nói. Chuyện vui chuyện buồn; chuyện nhà cửa chuyện cơ quan chuyện thế thái nhân tình... mỗi thứ một chút tạo nên không khí vừa thân thiết vừa mệt mỏi. Bọn mình già hết rồi một cái vỗ vai nhau cũng đủ để hiểu tình nhau! Mọi thứ trên đời này đang đi dần về phía vô cùng đối với tôi. Bạn bè vẫn là chỗ nương dựa tốt nhất cho tâm hồn. Mỗi khi thấy chới với tôi lại mong được ngồi với bạn bè (và với em). Như thế tôi mới thấy lòng mình bằng phẳng lại. Ừ mà nhìn lại tôi cũng ngạc nhiên cho chính mình. Sao tôi có thể vượt qua được những gập ghềnh của cuộc đời? Ai đã giúp tôi? Ai đã cho tôi tin yêu để không quỵ ngã giữa đường? Tôi nhớ đã không ít lần đang chạy xe giữa phố phường mà mắt tôi cay xè. Những giọt nước mắt rưng rưng dành cho thân phận mình; những đắng cay trút xuống đời mình một cách tàn nhẫn... mà có lúc tôi tưởng không sao gượng dậy được. Vậy mà tôi vẫn sống an nhiên dù thời gian đã quá tay khi vẽ những nếp nhăn lên gương mặt. Tôi nói với Thục Ngại Cương rằng tôi luôn mang ơn bạn bè. Ngoài gia đình bạn bè thực sự là nơi chốn đi về của tôi...

5.Tôi thắp nhang khắp các mộ hai bên nội ngoại; thắp nhang cho ba tôi cho con tôi và cho đứa em nông nổi khi buổi chiều sắp hết và cơn mưa lay phay theo gió thổi qua nghĩa địa hoang vắng. Tôi không vội vàng dù mưa có thể làm tôi lạnh cóng. Tháng 11 đã gần một nửa tôi đã qua một nửa đời và tôi muốn nghe gió thổi qua hồn mình để lại những gì và mang đi những gì! Mùi khói hương nồng trong không khí ẩm đục. Tôi nhận ra trên bàn tay mình không còn gì nữa kể cả buồn vui. Tôi như bay trong khoảng trời riêng của mình. Tôi mỉm cười sung sướng và đón chờ hạnh ngộ...

LƯU VỸ BỬU

More...

NGHĨ & VIẾT

By LƯU VỸ BỬU

LẠI NÓI VỀ LÒNG TỰ TRỌNG!

   Cuối năm thường là thời gian chạy đua với kế hoạch. "Đến hẹn lại lên" năm nào cũng vậy mặc dù địa phương ban ngành đơn vị nào cũng có ngành kế hoạch cũng xây dựng kế hoạch cả! Cuối năm thường gặp nhất là kế hoạch giải ngân. Theo quy định ngân sách được duyệt cấp sẽ bị thu hồi nếu không sử dụng hết.    
   
Báo chí hay nói đến tình trạng cuối năm các đơn vị ngành giao thông quản lý đô thị ... đẩy nhanh việc đào đường cày xới vỉa hè  dù vỉa hè còn tốt để xin giải ngân. Nhưng đâu chỉ có giao thông quản lý đô thị mà còn nhiều ngành khác cũng gấp rút "giải ngân". Cụ thể là liên tiếp các Trại sáng tác được các Hội Văn học nghệ thuật địa phương mở ra. Trại sáng tác thường được mở tại các thành phố du lịch. Hội viên nào muốn đi thì đăng ký. Hội lo toàn bộ ăn ở đi lại. Các hội viên lên đó nghỉ ngơi viết được gì thì viết mà không viết được cũng chẳng sao vì đây là công việc sáng tạo đòi hỏi phải có cảm hứng mà chưa có cảm hứng thì làm sao viết được (!). Thông thường Hội cũng có quy định là dự trại phải có sáng tác nhưng đối với những hội viên không có sáng tác nào cũng chẳng nghe ai bị thu hồi chi phí đã hưởng. Vì tiền "chùa" không mở trại cũng phải đem nộp lại ngân sách nên tội gì không để anh chị em có dịp du lịch miễn phí (!?). Đó là suy nghĩ của không ít vị lãnh đạo Hội.
   Trại sáng tác sao cứ phải tổ chức ở các thành phố du lịch? Sao không đưa các "nhà văn" "nhà thơ" ... đi thực tế ở miền Trung nơi người dân bị bão lụt cướp sạch miếng cơm manh áo để họ chia sẻ nỗi đau cùng đồng bào? Sao không dành tiền mở trại sáng tác mà thực chất là du lịch đó cho đồng bào bị thiên tai?... Những chuyến đi như vậy sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà văn nhà thơ so với đi "nghĩ dưỡng miễn phí".
   Nhà văn nhà thơ hay nhà gì nữa cũng phải tự mình kiếm sống bằng nghề đã chọn. Nhà nước không nên có chính sách đãi ngộ bất công như vậy. Chính sách mà có người ác khẩu nói là để "mua chuộc" các nhà văn nhà thơ (!?). Còn các nhà văn nhà thơ khi đã chọn nghề (hay có nghiệp) thì nên sống bằng nghề đã chọn. Nếu không sống được bằng ngòi bút của mình thì làm thêm một cái gì đó như nghề tay trái chứ đừng "thụ hưởng" đồng tiền đóng thuế của dân. Nó bất nhẫn lắm! Và khi các nhà văn nhà thơ nằm trong phòng máy lạnh có người cơm bưng nước rót để tìm cảm hứng thì những người dân phải mày mò trong đống đổ nát tìm xem có cái gì còn dùng được để tiếp tục mưu sinh khốn khó của mình.
   Người ta thường nói những nhà văn nhà thơ là những người nhạy cảm với nỗi đau của đồng bào. Vì thế xin dũng cảm từ chối những đặc ân (không đáng có) dành cho mình. Đó là sự tự trọng cần thiết!
   

More...

TRUYỆN

By LƯU VỸ BỬU

 

ĐÊM SƯƠNG GIÁNG

1.Thục dụi mắt nhìn ra cửa sổ. Trời mờ mờ sáng sau bức rèm mỏng. Thục không thể xác định được bây giờ đã là mấy giờ. Đêm qua đúng hơn là từ chiều hôm qua khi chiếc xe tốc hành dừng lại ở góc ngã ba Thục đã thấy choáng ngợp trước quang cảnh phố núi. Những ngôi nhà mái ngói đã chuyển sang màu nâu đỏ nằm lặng lẽ trong vườn cây trên các sườn đồi nửa như muốn giấu mình nửa như muốn phô trương một cách kín đáo trước những đôi mắt tò mò của người qua lại. Khí trời lành lạnh khiến Thục quên cả nhọc nhằn của chặng đường dài. Cô xốc lại chiếc ba lô trên vai nhắm ngọn đồi trước mặt đi tới. Con đường lởm chởm đá sỏi dưới mỗi bước chân của Thục lại vang lên những âm thanh lạo xao nghe thật vui tai. Con đường dốc chạy men theo sườn đồi chè vắng lặng không một bóng người. Bầu trời xám trắng tưởng chừng như nắng đã về hết bên kia ngọn đồi dù đồng hồ trên tay Thục mới chỉ hơn 3 giờ chiều. Thục càng đi càng hăm hở. Cô bỏ đường lớn theo đường mòn lần vào đồi chè. Cô rẽ ngang rẽ dọc vừa đi vừa ưỡn ngực hít lấy hít để mùi đất thơm nồng và mùi lá chè thoang thoảng trong không khí. Thục ngắt ngọn chè non nhần nha giữa hai hàm răng trắng nõn. Những cây chè đang vào mùa thu hoạch xanh ngăn ngắt như kích thích tâm hồn Thục. Cô muốn hét vang lên giữa đồi. Đã hơn một lần cô phải kềm lại tiếng hát của mình nhất là lúc tình cờ Thục bắt gặp đóa dã quỳ vàng tươi nằm nép mình bên con đường mòn. Những cánh quỳ mỏng mảnh vàng rực có sức hút kỳ lạ khiến Thục phải ngồi lăn xuống đất nâng cánh hoa lên như muốn tìm trong màu vàng kia một điều gì đó lạ lẫm dẫu dã quỳ tuy không thường gặp nhưng cũng đã quá quen thuộc với Thục.

Lang thang trên đồi chè cho đến khi nghe đói bụng và mỏi chân Thục mới quay lại con đường chính. Hơn nửa giờ sau Thục đặt chân trên thềm đá xanh trước chiếc cổng sơn màu lam nhạt. Đây là căn nhà Thục sẽ nghỉ ngơi suốt thời gian ở thành phố này. Nhưng nhìn chiếc cổng đóng im ỉm và chiếc khóa to tướng trên chiếc cửa chính bằng gỗ phía trong một thoáng lo ngại trong Thục. Cô nhấn chuông chờ đợi thắc thỏm. Năm phút rồi mười phút chẳng thấy tiếng chẳng thấy bóng ai. Thục nhấn chuông một lần nữa rồi ngồi phịch xuống thềm cổng cho đỡ mỏi. Khi biết chắc là sẽ không có ai đón mình và trời đã bắt đầu nhá nhem Thục mới lững thững bước đi định bụng kiếm hàng quán nào tìm chút gì ăn đỡ và hỏi chỗ trọ qua đêm. Khi ra tới đường chính Thục nghe tiếng kêu ơi ới phía sau. Cô quay lại nhìn. Một cậu bé chừng 15 tuổi đang chạy tới. Vừa thở cậu bé vừa đưa cho Thục một tờ giấy gấp tư nói:

-Chị là chị Thục?

Thục gật đầu. Cậu bé nói tiếp:

-Chị Hạnh gửi cho chị.

Nói xong không đợi Thục lên tiếng cậu bé bỏ chạy mất. Thục nhìn theo bóng cậu bé khuất dần sau màu xanh đen của cây cối và chiều tà rồi mở tờ giấy ra đọc. "Tao có việc đột xuất phải đi Nha Trang ngay không chờ mầy được. Xin lỗi đã để mầy một mình ở đây. Chìa khóa nhà tao gửi cho anh Tú ông anh họ của tao nhà ngay đầu đường dẫn vào nhà tao. Mầy yên tâm mọi chuyện tao đã nhờ anh Tú lo cho mầy rồi. Vài ngày nữa tao về sẽ nói chuyện nhiều. Chúc vui! Hạnh". Thục lầu bầu trong miệng: "Biết thế tao chẳng thèm lên!". Và tự nhiên Thục thấy tủi thân. Cô muốn khóc...

-Chị đừng buồn! Thành phố này đã quá buồn rồi nên luôn cần người mang niềm vui tới.

Thục giật mình quay lại. Một thanh niên trạc tuổi Thục đang mỉm cười. Nụ cười tươi tắn và trẻ thơ vô cùng. Nhưng cùng lúc Thục nhận ra vẻ giễu cợt ẩn giấu sau nụ cười tươi tắn đó.

-Tôi tên Tú. Nhỏ Hạnh có nói với tôi về chị. Nó bảo nếu tôi không làm chị vừa lòng nó sẽ không để tôi yên.

Vừa nói Tú vừa nhún vai vừa bước về chiếc cổng. Thục chỉ biết đi theo chẳng biết nói gì lúc này. Vào nhà Tú bật đèn lên rồi bảo Thục:

-Đây là phòng khách. Phòng ngủ của chị đàng kia. Phía sau bên trái phòng khách là phòng đọc sách nghe nhạc. Còn bếp thì dưới kia nhưng chị sẽ không phải bận rộn chuyện bếp núc đâu ngoài việc pha trà cà phê.

Thục bước theo Tú như robot. Tự nhiên cô trở nên nhu mì hiền lành như chú mèo con.

-Thôi chị đi tắm cho khỏe. Tôi sẽ mang thức ăn đến cho chị.

Nói xong không đợi Thục có ý kiến Tú quay ra cửa. Thục nhìn theo cho đến khi Tú khuất sau cổng mới quay vào khép cửa lại. Đến lúc này Thục mới sực nhớ chiếc ba lô nãy giờ vẫn còn sau lưng. Thục tháo ba lô thả người xuống chiếc sopha thở ra khoan khoái. Cô nhắm mắt lim dim theo tiếng nhạc từ dàn CD mà Tú mở trước khi đi.

Thục nửa nằm nửa ngồi như thế không biết trong bao lâu. Mãi đến khi nghe tiếng gõ cửa Thục mới giật mình. Cô vội vã ra mở cửa. Tú bước vào mang theo hơi lạnh vào nhà. Thoáng thấy Thục Tú khẽ nhăn mặt:

-Chị vẫn chưa...

Thục đỏ mặt sợ Tú biết là cô vừa ngủ quên. Thục lắp bắp:

-Xin lỗi. Anh đợi tôi một chút thôi!

Khi Thục bước ra thì đã thấy thức ăn bày trên bàn nhưng không thấy Tú đâu cả. Một mảnh giấy. Thục cầm lên đọc: "Nửa giờ nữa tôi quay lại đưa chị đi chơi. Chị chuẩn bị sẵn nhé! Chúc chị ngon miệng Tú.".

Vừa đói lại gặp thức ăn lạ miệng nên Thục ăn vội vã ngấu nghiến. Khi cảm thấy no cô nhìn lại bàn ăn và thấy mắc cỡ. Hầu như mọi thứ Tú đem đến đã được Thục ăn sạch cả chẳng để lại một chút gì. Cô vội vàng dọn bàn ăn tranh thủ rửa chén đĩa rồi đặt ấm nước lên bếp pha trà. Khi quay ra phòng khách Thục nhìn thấy giỏ trái cây Tú đặt trên bàn từ lúc nào. Thục gật đầu nói một mình: "Anh chàng thật chu đáo và dễ thương!". Nói đến hai chữ cuối cùng Thục nghe má mình nóng bừng. Sực nhớ lời dặn của Tú Thục lục ba lô tìm cái áo khoác. Vừa lúc đó tiếng Tú ngoài sân vang lên:

-Chị Thục xong chưa?

Thục mở cửa bước ra.

-Chúng ta đi thôi! Tiếng Tú từ bóng tối vang lên. Thục nhìn một hồi lâu mới nhận ra Tú đang tựa lưng vào bờ tường trước hiên nhà. Giọng cô tự nhiên run run:

-Anh không vào uống trà à? Tôi pha để đón anh đấy!

-Không để lát nữa về tôi sẽ uống với chị. Bây giờ chị muốn tôi đưa đi đâu đây? Hạnh dặn tôi phải chìu theo ý chị không được cãi lại.

Hạnh bao giờ cũng thế. Ồn ào thích ra lệnh và một cây nhõng nhẽo. Thục hình dung gương mặt phụng phịu của Hạnh khi ra lệnh cho ông anh họ rồi bật cười. Cô nói với Tú:

-Anh đừng nghe lời Hạnh. Tôi chẳng biết gì ở đây cả. Anh dẫn tôi đi đâu cũng được.

-Vậy tôi đưa chị đi đẫm sương đêm. Chị kéo cổ áo lên kẻo lạnh!

Tú dẫn Thục lên ngọn đồi mà Thục đã ở đó gần hết buối chiều nhưng theo một hướng khác. Vẫn con đường nhỏ chạy vòng quanh nhưng hình như ít người qua lại trên đường này. Thục nói với Tú nhận xét này của mình. Tú gật gù:

-Chị nhận xét đúng đấy! Con đường này chỉ có tôi đi thôi. Thỉnh thoảng có thêm nhỏ Hạnh và Khánh thằng nhóc chị vừa gặp khi chiều đó.

Thục nhìn dáng Tú đi trước in hình trên nền trời xám. Đột nhiên cô buột miệng:

-Anh không phải người ở đây?

Nói xong Thục biết mình lỡ lời. Tự nhiên suồng sã với người mới quen. Nhưng cô không kịp làm chủ lấy mình. Biết sao được có nhiều cái không thể hiểu được trong cuộc sống này. Thục nói riêng với mình rồi cô cất giọng lúng túng:

-Xin lỗi tôi đã quá tò mò. Tôi không kịp giữ suy nghĩ của mình.

Tú quay lại nhưng vẫn bước đi. Những ngọn cỏ ướt đẫm sương chạm vào chân Thục. Cảm giác tê lạnh thật dễ chịu lan khắp người Thục.

-Chị tinh ý thật. Tôi mới đến thành phố này hơn một năm. Ban đầu dự tính chỉ là một chuyến đi chơi không ngờ bám rễ luôn.

Thục trở lại với bản tính sôi nổi vốn có:

-Có người níu chân anh rồi chứ gì?

-Giáng sương! Tú nói với giọng điệu thật tự nhiên không phủ nhận cũng chẳng xác định.

-Một cái tên đẹp! Thục nói và cô cố hình dung người con gái đã khiến Tú phải dừng chân ở đây cả năm nay.

-Vâng!

Thục nghe tiếng Tú như từ một nơi xa xôi nào vọng đến. Cô cũng không nén được xúc động.

-Và là một người con gái đẹp!

-Vâng!

Tú đi chậm lại rồi rẽ qua con đường bên phải. Anh trèo lên một tảng đá nằm chơ vơ trên sườn đồi. Thục dò dẫm bước theo. Những cơn gió nhẹ thoảng qua và Thục cảm thấy lạnh. Tú nhường cho Thục đứng trước nơi bằng phẳng nhất và cũng để che gió cho Thục.

-Chị lạnh à?

Thục im lặng. Tự nhiên cô muốn nằm dài ra duỗi chân thẳng ra. Cảm giác khoan khoái cô nghĩ thế sẽ không sao sánh được.

-Chị nhìn đi!

Tú nói và đưa tay chỉ về phía trước. Thục nhìn theo thấy từ dưới thung lũng những đám sương mù như  được thổi lên rất nhẹ nhưng cũng đủ để tạo ra ra những luồng sáng trắng nhờ. Những luồng trắng ấy bay là đà trên những ngọn chè như muốn ôm quyện lấy tạo thành bức tranh mờ ảo hư hư thực thực. Thục như thoát khỏi thực tại cô nhìn nhìn không chớp mắt và tưởng chừng như mình cũng vờn bay theo.

-Giáng sương!

Thục giật mình. Cô quay lại nhìn Tú. Cả hai không ai nói thêm một lời nào nữa. Mãi cho đến khi sương ướt đẫm tóc Thục cô khẽ run lên vì lạnh cô mới nói với Tú:

-Về thôi anh! Tôi lạnh quá.

Giọng Tú khàn hẳn đi:

-Xin lỗi chị tôi quên là chị vừa mới đến đây.

Trên đường về Tú bước nhanh hơn. Thục cố gắng bám theo và nhờ đi nhanh nên Thục thấy ấm lên. Khi tới trước cổng Tú nói với Thục:

-Nếu bị cảm lạnh có thuốc để sẵn trong ngăn kéo đầu giường ngủ của chị. Tốt nhất chị nên uống một ly sữa nóng.

-Thế anh không vào uống trà như đã hứa sao?

Tú lắc đầu:

-Thôi để hôm khác. Khuya rồi vả lại chị cũng đã mệt lắm rồi còn gì! Chúc chị ngủ ngon!

Nói xong Tú quay đi. Thục nhìn theo dáng cao cao gầy gầy của Tú xiêu xiêu trong sương mờ. Bỗng dưng Thục muốn khóc.

Thục khuấy một ly sữa như lời Tú dặn. Hình như trong nhà chẳng thiếu một thứ gì. Thục biết Tú đã chuẩn bị mọi thứ cho cô theo yêu cầu của Hạnh. Tú thực chu đáo Thục nghĩ thầm khi nhìn thấy trong tủ bếp có cả mấy gói mì ăn liền.

Thục tắt đèn quay về phòng ngủ. Căn nhà rộng hẳn lên nhưng chẳng hiểu sao Thục không hề thấy lo lắng. Cô cảm thấy mọi thứ ở đây thân thuộc với mình từ lâu rồi. Cô nhìn thấy một mảnh giấy để dưới chiếc đèn ngủ. "Ở đây điện thoại di động không gọi được sóng yếu lắm. Số điện thoại của anh Tú Hạnh ghi đây để phòng khi Thục cần. Hạnh"

Thục cười và cô đi vào giấc ngủ một cách êm ái bình thản.

Thục chẳng muốn ngồi dậy. Cảm giác ấm áp dễ chịu khiến Thục muốn vùi sâu vào tấm chăn màu xanh biển. Đôi khi sự biếng trễ cũng đem lại cho người ta sự thích thú. Chẳng hạn như Thục bây giờ. Cô cảm thấy như mình đang sống trong thế giới khác một thế giới cách xa hẳn cái thế giới mà cô vẫn hằng ngày đối mặt. Cô không còn nghe thấy những âm thanh ồn ã náo nhiệt của đường phố lẫn những tiếng cau có khó chịu của những người cùng làm chung phòng. Cô không nhìn thấy những bụi bặm tràn ngập trên đường đi cũng như những gương mặt bề ngoài cười cưới nói nói nhưng bên trong cứ chực chờ giành giật lẫn nhau.

Thục đổi tư thế nằm. Cô úp mặt xuống chiếc gối trắng tinh thơm mùi hương hoa hồng. Thục không thể nào tin được những gì cô đang tận hưởng là có thực. Như người vừa trải qua một biến cố trong đời mình Thục rũ sạch những ưu tư buồn bực trong lòng mình. Mười hai ngày phép năm ở một góc nhỏ thành phố xa lạ cũng đủ để Thục sống lại thời trong trẻo của mình. Và cả Tú nữa một người không hề chờ đợi đã nhẹ nhàng chiếm lấy một khoảng không nhỏ trong tâm trí Thục. Cô mang máng nhận ra rằng Tú cũng có một tâm trạng như mình. Trong mấy tiếng đồng hồ bên Tú với vài câu trò chuyện nhưng rõ ràng Tú đã làm cho Thục thấy nhẹ lòng đã giúp Thục nhận ra cuộc sống với tất cả góc cạnh của nó.

Thục xấu hổ khi nhớ lại đêm qua Tú đã làm Thục trở nên lố bịch. Lâu nay quen với cách sống đơn giản và đơn điệu Thục trở nên chai lì và công thức trong nếp nghĩ. Tú và đêm sương giáng đã làm Thục vỡ ra rất nhiều điều nhất là để hiểu những người chung quanh mình. Thục miên man nghĩ ngợi. Còn anh chàng Tú sao mà bí ẩn đến thế! Hơn một năm tự nguyện ở đây chẳng lẽ chỉ vì những đêm sương giăng kín đồi chè? Tú đã làm Thục bận tâm. Thục muốn chính Tú phải nói những điều mà Thục muốn biết trong kỳ phép này.

Thục rời chỗ nằm. Thục biết Tú đang chờ mình nhưng cô không hề vội vã. Thục nghĩ mình có quyền đỏng đảnh một chút. Vì thế cô nhẩn nha đến hơn một giờ sau cô mới mở cửa chào ngày mới.

Thục thấy chiếc giỏ đan bằng mây được ủ kín đặt ngay trước cửa lớn. Thục cầm lấy. Một mảnh giấy trắng lộ ra. Thục cầm lầy đọc: "Tôi nhờ chú bé Khánh mang thức ăn qua cho chị. Không biết nó mua cái gì nữa. Hy vọng sẽ không làm chị buồn lòng. Ngày hôm nay chị thích đi đâu thì đi. Tối nay tôi sẽ uống trà cùng chị. Chúc chị một ngày vui. Tú"

Thục thấy thất vọng và tự nhiên thấy trống vắng. Cô đang chờ Tú đến kia mà. Anh chàng Tú lời lẽ lịch sự trang trọng nhưng khi nói chuyện lại gần gũi tin cậy biết bao. Thục mỉm cười. Cô ngồi ngay cửa giở giỏ thức ăn ra. Mùi thức ăn thơm nồng kích thích bao tử Thục. Chưa bao giờ Thục thấy bữa ăn sáng ngon đến vậy. Không hiểu vì sao Thục tin rằng chính Tú đã mang thức ăn đến đây. Hơn thế nữa Tú đã dậy sớm để chuẩn bị bữa điểm tâm cho Thục. Thục tin chắc như vậy dù cô không sao giải thích được. Cùng lúc cô nhận ra dã quỳ nở rộ quanh nhà. Màu hoa vàng trong ánh bình minh ấm áp kỳ lạ. Lòng Thục ngập tràn sung sướng. Cô hiểu rằng trong cuộc sống niềm vui luôn ở rất gần... (còn nữa)

LƯU VỸ BỬU

                                                                    

More...

NHỮNG NGÀY TÔI SỐNG

By LƯU VỸ BỬU

 

THÁNG 10: XỬ THẾ NHƯỢC ĐẠI MỘNG

      1.Sáng nay ngồi tiếp chuyện với anh Th. tại một quán cà phê ở K300 đường Cộng Hòa. Câu chuyện xoay quanh mệnh số con người và dừng lại ở chỗ thôi thì phước phần ai người đó hưởng và cố gắng sống chân thành tử tế với mọi người. Đành thế chứ biết giải thích thế nào chuyện hai chị em sinh đôi ra đời cách nhau chừng 10 phút đồng hồ mà cô chị thì sướng như bà hoàng cô em thì vừa lận đận tình duyên vừa khổ vì miếng cơm manh áo? Có tiền kiếp không? Tôi thì tin có nhưng bảo giải thích thì... lắc đầu chịu thua. Nhắc đến chuyện này thực ra tôi muốn nói đến một chuyện khác. Chuyện chúng ta đang sống trong một thế giới "lắm người nhiều ma" (mượn tên một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khắc Trường). Người viết hoa và Ma cũng viết  hoa. Ở đây Ma và Người sống xen kẽ nhau chưa biết ai tốt ai xấu. Có khi Ma cứu người; lại có khi Người hại người. Có khi Ma hiện nguyên hình của một hình nhân không đầu không chân hù dọa người qua đường. Lại có khi Người hiện thân là một cô gái xinh đẹp lẳng lơ ban cho người này kẻ kia những cơn hoan lạc. Có khi Ma hiện thân thành một người ăn mày rách rưới hôi hám nhưng tấm lòng trong sạch từ tâm. Có khi Người là một quan chức áo quần bảnh bao lên xe xuống ngựa nhưng tâm hồn rác rưởi tanh tưởi. Vì thế nhiều lúc vô duyên gặp Ma mà hạnh phúc; hữu duyên gặp Người lại bạc phận không chừng!

      2.Khi người ta bắt đầu bước lên đến đỉnh đời sẽ nghĩ gì? Con dốc vừa trải qua ngoái nhìn lại thấy kinh hãi. Bao nhiêu gập ghềnh thác lũ và có cả êm đẹp nhung gấm đã hằn lại những dấu ấn không thể nào quên. Có những lúc nó khiến ta vui vẻ dạt dào niềm tin nhưng cũng không ít lần nó làm ta ngã quỵ nản lòng. Nhưng rồi ta cũng lên đến đỉnh đời bằng những lối đi khác nhau do người này chỉ dẫn hoặc do chính ta mò mẫm tìm đường. Con dốc vừa trải qua nhiều khi giúp ta phấn chấn bước xuống dốc đời trước mặt nhưng cũng có khi làm đôi chân ta ngại ngần do dự khi đi về bên kia đời. Nhưng ta không thể quay lại nên dù muốn hay không ta cũng phải tập quên những gì có thể để tiếp tục những bước khó xuống dốc đời còn lại. Và không khỏi có những lúc ta tự hỏi "Ta đã làm chi đời ta?" như một nhà thơ từng hỏi! Cha mẹ sinh ra - cứ lấy một hoàn cảnh bình thường hoàn cảnh của số đông làm ví dụ - cho ta ăn học. Lớn lên cưới vợ gả chồng ta lại bắt đầu cái vòng lẩn quẩn: nuôi con cho con ăn học và báo hiếu cha mẹ. Đến khi không còn làm việc được nữa thì lại như cha mẹ ta ta ngồi chờ đợi con phụng dưỡng và... chờ chết! Cuộc đời đơn giản và nghèo nàn làm sao cho dù đó là một tỉ phú hay người chạy ăn từng bữa đều khổ như nhau! Tất nhiên không cái khổ nào giống cái khổ nào nhưng đều như nhau về cái khổ.

      3."Ta đã làm chi đời ta?". Ta sống trong ích kỷ trong vỏ ốc rồi nhìn ra ngoài kia mà chê bai mà than thân trách phận. Đó là lẽ thường thấy ở đời! Ta ôm cái nhiệt huyết ta nuôi cái hoài bão "xoay bạch ốc lại lâu đài ném thanh khâm sang cẩm tú" (Tài tử đa cùng phú - Cao Bá Quát) nhưng tài sơ trí thiển đức mọn tài hèn không làm nên chuyện gì cho xã hội lại không hiểu thấu lẽ đời cứ thở than "đầu thai nhầm thế kỷ" (thơ Vũ Hoàng Chương) trách đời sao ta là Bá Nha chẳng tìm thấy Tử Kỳ(!) rồi nhìn đời bằng đôi mắt xám. Thôi thì lỡ vận xin đừng trách cứ ai cam chịu đời cái kiến con sâu "côi cút làm ăn toan lo nghèo khó" (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu) mà trả nợ đời báo hiếu mẹ cha. Con dốc đời ta đang ở phía bên kia. Lên dốc dễ hay xuống dốc khó? Hình như chẳng khác nhau mấy! Đi lên khó nhưng sức trẻ; đi xuống dễ nhưng lực tàn. Đi lên còn hăm hở khám phá còn đi xuống sợ sệt cản đường khiến phía dốc bên kia trở nên nặng nề buồn tẻ. Ta "tiến thoái lưỡng nan" và trong một phút giây nào đó hay dùng ngôn ngữ nhà Phật thì trong một sát na ta nhận ra nỗi cô đơn khủng khiếp đang dày xéo tâm hồn. Đi xuống dốc đời mà gió thông thốc sau lưng mới hay đời ngắn thật. Người xưa than: "Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy; Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười..." (Cao Bá Quát) quả không sai! Mới đó tuổi hai mươi qua như bóng câu cửa sổ! Mới đó mà bầu máu nóng trong người đã nguội lạnh! Mới đó mà người tình đã bạc tóc môi phai...

      4.Chữ NHẪN (nhịn) nếu chiết tự theo kiểu chữ Hán thì trên là bộ Đao dưới là chữ Tâm. Đao đâm thấu tim không đau sao được! Nhưng nếu vượt qua được nỗi đau ấy là ta thành công ít nhất cũng thành công ngay thời điểm đó. Nhưng nhịn theo cách: lúc này ta đang yếu thế nên nhịn đợi đến hôm khác sẽ biết tay ta là cái nhịn mà chực chờ tai họa dù có thể tai họa sẽ không xảy ra (tiếc thay tôi đã nhiều lần nhịn như vậy!). Còn nhịn theo kiểu đức Jesus dạy: "Ai tát má bên phải con con hãy đưa luôn má bên trái cho họ" là cái nhịn để gieo hạt bình an cái nhịn hỉ xả theo đạo Phật (tiếc rằng tôi chưa được như vậy!). Đến quá nửa đời người mới nhận ra cái hư hỏng của mình e là đã trễ. Nhưng nói như người đời trễ còn hơn không nên trên còn đường đi về dưới dốc đời tôi tự đặt cho mình một nghĩa vụ: hãy sống tốt hơn nữa hãy khắc kỷ với mình và độ lượng với mọi người. "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (sách Luận ngữ - Khổng Tử) cái gì mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác cái đạo lý sơ đẳng mà sâu sắc biết bao nhưng nhiều khi ta không thắng được những cám dỗ tầm thường sa vào những thị phi để rồi đêm đêm về đối diện với con người thật của mình lại não nề buông ra những tiếng thở dài. Đó không phải chính ta hành hạ mình sao? Đó không phải chính ta se dây buộc mình sao?

      5."Xử thế nhược đại mộng" (thơ Lý Bạch) quả thật đời là giấc mộng lớn (dài). Tiếc là khi lên đến đỉnh đời mới nhận ra sự thật đau xót đó để rồi hối hận vì đã sân si quá trong đời mình. Lẽ ra ta đã có được những bình yên nhưng cái bả danh lợi cộng với những viển vông hảo huyền đã quật ta tơi bời đã xéo đời ta thành những khúc phần oan nghiệt. Ai đó nói rằng địa ngục hay thiên đường cũng tự tâm mà có tự tâm mà ra. Nghĩ cho cùng chẳng sai! Ta đã tự mình gieo những hạt khổ lụy thì mong gì gặt được những mùa vui? Tháng 10 tôi cũng tự mình thu hoạch những gì đã gieo và trong mớ hỗn độn nhận được đó tôi bàng hoàng nhận ra cỏ dại nhiều hơn lúa vàng. Nghĩa là tôi đã sống hoang phí hay đúng hơn sống gần như vô vị một nửa thời gian có mặt trong đời. Thôi thì xin cắn cỏ lạy đời tôi rời xa bon chen rời xa ô trọc để vui sống với cảnh thanh nhàn an nhiên tự tại trong thế giới riêng của mình trong vòng tay yêu thương của bạn bè gia đình... Tháng 10 tôi cầu xin an lành được thư thái cùng em...

LƯU VỸ BỬU

       


More...

LÒNG TỰ TRỌNG: ĐÃ LÀ XA XỈ?

By LƯU VỸ BỬU

        Một người quen kể chuyện quê nghe xong không biết nên cười hay nên khóc! Chuyện chẳng có gì mới và hình như cũng xảy ra ở nhiều nơi khác? Khi một ê kíp mới được trao quyền lãnh đạo địa phương thì có một số ý kiến phản đối. Phản đối tại địa phương không được thì gửi văn bản lên cấp trên. Nhưng là chuyện cấp dưới nên cấp trên chuyển xuống cấp dưới nghiên cứu trả lời. NhẬn được văn bản trả lời những bên phản đối vẫn không thông cứ nhùng nhằng mãi. Cuối cùng một "quân sư" đề xuất: "Nghe nói con trai của ông ấy (người phản đối) vẫn chưa có việc làm. Hay mình tuyển vào làm nhân viên để người con về tuyên truyền cho cha mình hiểu...". Nhất trí cái rụp và từ khi con vào làm nhân viên thì cha cũng hết tố cáo khiếu kiện luôn. Vì ai đi tố cáo cơ quan con mình bao giờ! Thủ đoạn ghê thật.

      Một chuyện nhỏ mà không nhỏ: Người yêu thơ chọn lọc từ những sáng tác của mình để in tập thơ là chuyện đáng khuyến khích. Lại có người yêu thơ và thích làm thơ... bí hiểm; đọc cả ngày không hiểu tác giả nói gì còn khó hơn thưởng ngoạn tranh của Picasso. Rồi sẵn tiền in ra biếu khắp nơi. Người được tặng lịch sự gửi lời cám ơn. Có người cao hứng viết lời giới thiệu toàn những lời có cánh những lời hoa mỹ nhưng sáo rỗng rồi tung lên mạng. Đã vậy còn so sánh với nhà thơ này thi hào nọ cứ như phát hiện một thiên tài chuẩn bị được đề cử nhận giải Nobel không bằng. Được giới thiệu mà người được giới thiệu chẳng vui chút nào vì... ngượng. Thế nhưng người giới thiệu cứ điềm nhiên như không.

      Hôm cuối tuần rồi ngồi cà kê dê ngỗng với mấy người bạn. Chuyện một hồi lan man dẫn đến các giải thưởng quốc gia. Nghe đâu giải thưởng cấp nhà nước lên đến 150 triệu đồng. Có người từ chối không nhận vì "mình không xứng đáng" nhưng đại bộ phận thì vui vẻ nhận. Số tiền quá lớn so với đời sống người dân có nơi làm không được 10.000 đồng/ngày. Những nhà hoạt động văn hóa (nói chung) phần thưởng lớn nhất và giá trị nhất là tác phẩm của mình được đông đảo độc giả đón nhận. Suy cho cùng đó cũng là một nghề như bao nhiêu nghề khác mà thôi! Có người làm việc trong các cơ quan nhà nước hằng tháng hưởng lương và các khoản phụ cấp khác ngoài tiền nhuận bút.  Nhưng bác sĩ nhà giáo ... thì không có giải thưởng như các nhà văn nhà thơ.... Có người nói coi như quà tặng của nhà nước dành cho các nhà văn nhà thơ đã có những tác phẩm xuất sắc. Nói vậy thì coi như... huề nhưng ngân sách là tiền của nhân dân mà người dân mình thì còn tới 70% đang sống trong nghèo khổ!

            Rồi nhắc đến chuyện nhà nước "đặt hàng" các nhà văn với mức tài trợ nghe đâu lên đến 25 triệu đồng. Có những nhà văn thẳng thừng từ chối với lý do: sống bằng ngòi bút chưa cần và không cần thiết đến sự tài trợ. Có nhà văn vui vẻ nhận thậm chí có người nửa đùa nửa thật: "Nhà nước cho khéo chứ chẳng lẽ sau này mình không có tác phẩm nhà nước lại đi đòi?". Anh bạn ở Hội văn học nghệ thuật của một địa phương kể: tỉnh mình có chủ trương tài trợ cho các hội viên có tác phẩm đăng ký xuất bản bình quân từ 8 - 10 triệu đồng/tác phẩm. Ai đăng ký thì được tài trợ nhưng số tiền đó về đến Hội thì bị chia hai: một nửa cho tác giả một nửa cho Hội. Một người bạn là nhà báo cảm khái: "Anh được một đơn vị nào đó mời đến dự họp báo. Họp xong người ta phát cho cái phong bì. Nhận phong bì rồi lẽ nào không viết cho họ vài dòng. Nếu họ tốt khen cũng thấy hơi khó chịu rồi. Còn như họ sai lẽ nào mình... nhắm mắt?".

            Lại có người nhớ lợi thế nghề nghiệp trong cuộc họp nào cũng phê phán cũng lên tiếng chỉ trích đủ chuyện. Sau đó không biết vô tình hay sắp xếp được mời tháp tùng theo đoàn của các quan chức nhà nước công du nước ngoài miễn phí. Khi về tới nhà tự nhiên nhũn chi chi nói năng chừng mực không to tiếng tại các cuộc họp như trước nữa. Có nhà báo được doanh nghiệp mới du lịch nước ngoài về nhà viết hồi ký tùy bút tá lả rồi lấy luôn trang mục của báo làm bài PR khiến độc giả bỏ tiền ra mua báo tức anh ách mà chẳng làm gì được.

            Xem ra lòng tự trọng đã thành món hàng xa xỉ rồi!

            Người ta làm bất cứ việc gì lấy ngòi bút và cái lưỡi không xương của mình bào chữa biện minh cho mình. Nhưng "vải thưa đâu che được mắt thánh" người dân biết hết có điều họ không nói. Họ đi "rửa tai" thôi!

                  LƯU VỸ BỬU

           

More...

QUA LỐI CŨ

By LƯU VỸ BỬU

Nắng sắp hết không người qua đó nữa
Cỏ cây buồn ngồi nhớ dấu chân ai
Chim chóc đã về trơ mùa vàng cũ
Lời thề xưa đã trắng ngập mây trời

Xin im lặng nghe chừng giông bão tới
Tình mười năm lồng lộng gió trong hồn
Môi ai đỏ để tim rơm rơm máu
Tóc ai xanh mà rờn rợn tình trần

Tình vụng dại treo trên cành chân thật
Để mai này nở những dối gian nhau
Đường quen cũ bỗng tít mù sương khói
Giấc mơ nào tím ngát vết thương sâu

Qua lối cũ em có nghe nước mắt
Rơi trên vai trong một buổi chiều gần
Nghe kỷ niệm trong lòng mình quẫy đạp
Mai kia rồi ai đứng ngóng xa xăm.

Ném nụ hoa còn nguyên màu hương sắc
Vào hư vô đổi lấy mộng đã chiều
Nắng sắp hết em còn hơ háp gió
Suối sông rồi cạn đáy những mùa yêu

Tình dẫu trôi theo kẽ tay như cát
Thì yêu thương vẫn lấp lánh tay người
Em cúi mặt che nỗi buồn đang lớn
Và dối mình trong sắc áo hoa tươi.

Xin im lặng để tình yêu tròn giấc
Cuộc đời kia sau những sắc bình minh
Là lá rụng là sương rơi tàn nhẫn
Tình thơ ngây sẽ vỡ nát tim mình...

LƯU VỸ BỬU

More...

NGHĨ TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG

By LƯU VỸ BỬU

     1.Trong bài viết GIEO HẠT tôi đã xót xa khi nói đến phương châm "Tiên học lễ hậu học văn" đã bị ngành giáo dục "quên lãng" một thời gian dài. Thời gian "quên lãng" đó cũng có thể tính ra là vài thế hệ. Những thế hệ này trưởng thành không có "LỄ" làm hành trang vào đời nên mang theo những hệ quả khác thông thường là LỢI DANH ... và bao thứ "quái thai"  kèm theo để vào cuộc sống. May mắn cho chúng ta là có nhiều người lớn lên trong thế hệ đó không bị nhuốm bẩn bởi cái gọi là đào tạo con người không theo quy luật và xem thường đạo lý. May mắn cho chúng ta là nhiều người trong thế hệ này không làm công tác lãnh đạo; nếu không cả xã hội sẽ bị rối tung lên bởi con người chạy theo lợi danh mà quên cái lễ ở đời.
   Cũng trong bài viết này tôi muốn nhấn mạnh đến một chi tiết thường bị các nhà quản lý giáo dục các nhà sư phạm hiểu chưa thấu đáo. Đó là đối tượng thực hiện và là mục đích của phương châm này. Tôi muốn nói đến việc trước khi giáo dục cho học trò của mình các nhà quản lý giáo dục các nhà sư phạm phải thấm nhuần cái LỄ ở đời. Còn cứ thao thao bất tuyệt với học trò còn bản thân mình chẳng tỏ ra biết LỄ thì chẳng khác gì chim cuốc ra rả kêu hè! Và sau đó tất yếu sẽ có những hành vi ngược đời như các nhà quản lý giáo dục ở Phan Rang Ninh Thuận vừa rồi chủ trương phân loại giáo viên chưa chuẩn trên bảng tên. Cái LỄ đã bị coi thường nên dẫn đến hành vi khiếm lễ. Nhân chuyện công chức đeo bảng tên tôi thấy ngành giáo dục cũng cần thể hiện tính mô phạm trong các chủ trương của mình. Nếu làm việc tại Sở Phòng Giáo dục thì việc đeo bảng tên là việc làm bình thường giống như các sở ban ngành khác nhằm giúp cho người dân đến tiếp xúc khỏi phải lúng túng để tìm đúng người đúng nơi cần thiết. Còn ở trường học việc buộc các thầy cô giáo đeo bảng tên vô hình trung tước đi cái gọi là thiên chức của nhà giáo. Trong trường học sinh nào không biết thầy cô giáo cần gì phải có bảng tên. Nếu có khách ngoài nhà trường thì văn phòng hay ban giám hiệu tiếp ít khi có khách trực tiếp đến gặp giáo viên. Nếu giả sử như có người nào đó muốn gặp thầy cô giáo nào thì cũng phải qua văn phòng trước. Cứ thấy công chức phải đeo bảng tên là nhất nhất buộc các thầy cô giáo làm theo chẳng khác gì tư duy bầy đàn!

      2.Tôi rời trường học cũng đã lâu nên nhiều chủ trương công tác trong nhà trường không cập nhật được. Tôi chỉ nói đến chuyện cũ thôi. Tôi cũng từng làm công tác Đoàn Đội trong nhà trường nhiều năm và mỗi lần nghĩ đến cứ thấy băn khoăn trong lòng. Trước hết công tác Đội Thiếu niên Tiền Phong sao không cuốn hút được các em học sinh tham gia. Nếu cứ cho là không có thời gian để học nên công tác Đội vẫn phải tà tà e rằng chúng ta tự dối mình. Nếu ai đó có dịp đi ngang qua công viên Tao Đàn vào sáng chủ nhật sẽ thấy rất nhiều có khi cả hơn hàng trăm thiếu niên thanh niên tham gia sinh hoạt hướng đạo. Các em tham gia rất sôi nổi và nhìn các em tôi thấy rõ sự tự hào của các em khi khoác lên người mình bộ đồng phục hướng đạo sinh. Nhìn mà chạnh lòng cho các hoạt động của Đội TNTP: vừa nghèo nàn vừa thiếu sức sống. Lỗi tại ai? Lỗi không chỉ do Tổng phụ trách và các anh chị phụ trách Đội ở trường mà còn do Hội đồng Đội cấp trên do Đoàn cấp trên không có được chương trình sinh hoạt hấp dẫn thiết thực và bổ ích cho các em. Ngay như công tác kế hoạch nhỏ thu gom giấy vụn đã dần dần biến thành... "nộp tiền kế hoạch nhỏ" cho tiện cả đủ người đủ cấp (!?). Không biết Đoàn các tỉnh thành TW Đoàn Hội đồng Đội các cấp và cả ngành giáo dục có bao giờ băn khoăn về chuyện này không nhỉ?
   Ngày trước khi còn làm công tác Đoàn tôi đã nhiều lần kiến nghị cấp trên cho đoàn viên là học sinh sinh hoạt riêng với đoàn viên là các thầy cô giáo nhưng không được chấp nhận với một lý do: Đoàn là tổ chức chính trị mỗi đoàn viên đều bình đẳng như nhau. Còn thầy cô giáo với học sinh là ở nhà trường không liên quan gì với nhau. Cái lý của các vị lãnh đạo lúc đó không ai dám cãi. Tôi cũng vậy nhưng tôi có cách giải quyết của riêng tôi không sai điều lệ Đoàn và cũng đạt được chương trình chung lẫn kế hoạch riêng của mình. Hồi đó nơi tôi công tác các em học sinh do điều kiện chiến tranh phải đi học trễ; một số em tham gia hoạt động cách mạng sau hòa bình về đi học lại. Vì thế không ít em học sinh lớn tuổi hơn cả thầy cô giáo nhất là các thầy cô giáo từ miền Bắc được đào tạo cấp tốc theo hệ 10+ 2 tháng (tức tốt nghiệp lớp 10 hệ 10 năm cộng với khóa học sư phạm 2 tháng) để kịp thời chi viện cho ngành giáo dục miền Nam. Khi sinh hoạt Đoàn trường các em học sinh thoải mái gọi thầy cô mình là đồng chí và phê bình mọi thứ chẳng nể nang gì nhất là em nào bị "đoàn viên thầy cô giáo" cho điểm kém do không thuộc bài. Chuyện thì không sai nhưng tôi thấy có cái gì đó không được tôn trọng. Không biết làm sao để tách đoàn viên học sinh ra khỏi đoàn viên giáo viên tôi khi đó làm phó Bí thư Đoàn trường nghĩ ra một kế... hạ sách là tuyên bố công khai trong hội nghị đại ý: Đoàn viên phải gương mẫu! Về phần các thầy cô giáo là đoàn viên chúng ta sẽ có một quy ước riêng. Còn các đoàn viên là học sinh phải làm gương trong học tập. Các đồng chí ngồi đây họp nói rất hay vế lý tưởng về mục đích mà sáng mai vào lớp tôi kiểm tra bài không thuộc lúc đó các đồng chí nói sao? Đừng lấy lý do là tối qua em bận họp Đoàn khuya quá không kịp học bài. Tôi lúc đó là thầy giáo không chấp nhận đâu. 
   Sáng hôm sau tôi làm thật. Cứ gọi đoàn viên học sinh lên kiểm tra bài và y như rằng 10 "đồng chí" thuộc bài được 1 2 "đồng chí" là cùng! Sau vài lần tôi mới gợi ý dành 30 phút trưa thứ bảy sau giờ sinh hoạt lớp cho học sinh đoàn viên họp. Dần dần tôi đề xuất thành lập chi đoàn học sinh riêng và tiến tới lập Đoàn trường. Lúc đầu cũng nhiều điều tiếng nhưng không ai bắt bẻ được và kết quả đạt được tốt hơn. Thầy trò đều vui vẻ. Công tác Đoàn Đội đạt được những kết quả cụ thể chứ không chung chung như trước nữa.
   Sở dĩ tôi dông dài chuyện cũ để nói rằng công tác Đoàn Đội và cả Công đoàn trong nhà trường mang nặng tính hình thức lắm. Cần phải có một sự thay đổi triệt để và sự thay đổi đó phải nhắm vào mục tiêu học làm người và học chữ. Nhà trường cần tiên phong làm một cuộc cách mạng sâu sắc và triệt để về mục tiêu giáo dục vì "sản phẩm" của ngành giáo dục sẽ là lực lượng nòng cốt lãnh đạo quản lý xã hội sau này. Bao nhiêu năm đã trôi qua chúng ta đối xử với ngành giáo dục như đồi xử với ngành khai thác mỏ ngành công nghiệp mà quên rằng nhà trường là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước là nơi đào tạo những con người mà sau này sẽ lãnh đạo đất nước sẽ quản lý làm giàu cho đất nước. 
   Xin đừng quên câu cách ngôn: KHÔNG THẦY ĐỐ MẦY LÀM NÊN!. 
   "Lời quê góp nhặt dông dài..." xin được miễn chấp nếu có điều gì đó quá lời hoặc chưa chính xác.

LƯU VỸ BỬU

25/9

More...

VIẾT TỪ "KHU VƯỜN KỲ LẠ" Ở LONG AN

By LƯU VỸ BỬU

 


Khu vườn chữa bệnh. Ảnh chụp ngày 25/9



Người dân ngồi chữa bệnh. 25/9


Nhà cầu nguyện. 25-9


Lấy nước chữa bệnh. 25/9

      1.Tôi biết khu vườn này cách đây cũng đã 5 năm. Báo chí một thời đưa tin khá rầm rộ về hiện tượng hàng ngàn người dân mỗi ngày đổ về ấp Tân Hội xã Đức Lập Thượng huyện Đức Hòa Long An để chữa bệnh. Nếu nhìn qua các trang báo thì phần lớn thông tin là khẳng định khu vườn này bình thường (tuy điện từ năng lượng... có cao hơn nơi khác) không có khả năng chữa bệnh. Chỉ một vài bài báo khách quan hơn dẫn thêm vài ý kiến của người đến đây chữa bệnh có kết quả tốt. Tiếng vang và những hệ lụy của khu vườn chữa được bá bệnh này đã khiến chính phủ cũng như các cơ quan quản lý tổ chức nhiều đoàn kiểm tra nghiên cứu đánh giá và hầu như tất cả cùng có chung một kết luận: khu vườn không có khả năng chữa bệnh và đây chỉ là trò mê tín dị đoan.

Tôi cũng được đọc những bài báo này. Đồng thời tôi cũng được nghe từ nhiều người đã từng đến đây kể lại. Hai luồng ý kiến này trái ngược nhau. Khi đó tôi nghe để biết chứ thực sự không quan tâm đến.

Nhưng đầu tháng 9 này mẹ chị hai và đứa em thứ 8 của tôi từ quê lặn lội vào Sài Gòn và đề nghị tôi đưa xuống khu vườn để chữa bệnh. Mẹ năm nay đã 80 tuổi bị cao huyết áp hẹp động mạch chủ suy tim nặng; chị hai năm nay 60 tuổi bị cao huyết áp và đứa em 44 tuổi bị ung thư. Ba bà phụ nữ mang trọng bệnh vượt gần ngàn cây số vào với mục đích chữa bệnh thì tôi không thể lấy bất cứ lý do nào để từ chối. Có bệnh thì vái tứ phương tôi và người chị thứ ba quyết định đưa mẹ chị và em đi Long An.

Vừa đi vừa hỏi đường cuối cùng chúng tôi cũng đến được nơi cần đến. Cảm nhận đầu tiên của tôi là khu vườn rất sạch sẽ quang đãng không khí trong sạch. Điều đó làm tôi yên tâm phần nào. Do chủ khu vườn không cho bất kỳ ai ở lại nên chúng tôi phải thuê phòng trọ với giá 10.000 đồng/người/ngày. Nếu muốn ăn cơm thì mỗi bữa ăn cũng giá 10.000 đồng gồm một món mặn một món canh một món rau. Các dịch vụ ăn ở này do những nhà ở gần khu vườn đảm nhận nhưng theo nhiều người thì hiện nay số người tới chữa bệnh giảm đáng kể nên các hộ dân ở đây cũng không mặn mà lắm trong việc nhận lưu trú và nấu ăn.

Còn khu vườn thì tự do ai muốn vào thì vào không phải đóng nộp một thứ tiền nào hết. Chủ nhân khu vườn quy định mở cửa đón người vào lúc 6 giờ sáng và đóng cửa lúc 6 giờ chiều. Những người đến chữa bệnh ở đây không thắp nhang không cúng bái. Họ chỉ ngồi thiền (thực ra ngồi yên lặng và lẩm nhẩm khấn cầu) xin "Trời" chữa bệnh. Ngồi mệt thì có thể nằm trong nhà hay ngoài vườn. Ngoài ra cứ 7 giờ sáng và 12 giờ trưa chủ khu vườn bơm nước chứa trong một xô nhựa lớn và những người chữa bệnh đến lấy nước để dùng. Cũng có những người từ nơi khác đến xin nước về nhà uống chứ không đến chữa bệnh. Nước này theo những người chữa bệnh cũng là một thứ thuốc.

Những ngày theo mẹ chị và em xuống đây tôi được nghe kể những chuyện mà thoạt nghe như chuyện hoang đường. Người kể thì thành kính đầy đức tin; còn tôi thì bán tin bán nghi vì nhiều lẽ: thứ nhất nếu không tin tỏ ra thờ ơ thì sợ ảnh hưởng đến mẹ và chị em; thứ 2 cái gì chưa tận mắt chứng kiến thì chưa tin được.

      2.Thứ sáu ngày 18/9 buổi sáng tôi thấy hai người phụ nữ như hai mẹ con bước vào vườn. Người mẹ chưa tới 50 tuổi; cô con gái chừng ngoài hai mươi tuổi chống nạng đi từng bước nặng nhọc vào căn nhà nơi được coi là nhà cầu nguyện. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau tôi nghe tiếng kêu đau đớn từ căn nhà vọng tới. Tò mò tôi chạy đến thì thấy cô gái đó đang nằm trên nền nhà hai tay đánh thật mạnh vào vết thương còn nguyên dấu chỉ may. Tôi hỏi thăm thì mẹ cô gái cho biết cô bị tai nạn giao thông gãy chân vừa tháo bột hôm qua. Hôm nay chị đưa con gái xuống để xin chữa cho mau lành. Chân cô gái tuy đã tháo bột nhưng vẫn còn ốc kẹp cố định xương nên khi nãy tôi thấy cô lê từng bước đi là vậy. Lúc này hai tay cô gái vẫn cứ đánh liên hồi vào ngay đầu gối nơi cố định xương. Vừa đánh cô vừa la "đau quá đau quá" khiến ai chứng kiến cũng thấy xót lòng. Cô lăn lộn đau đớn mồ hôi mồ kê đầy người . Đánh vào mình chán cô quay sang đập hai tay xuống nền nhà đen đét. Nhìn cô gái thực sự tôi thấy xót xa vô cùng. Những người chung quanh thì vừa xót vừa mừng cho cô. Họ nói: "Điển vào chữa bệnh đó! Cô này may mắn quá!". "Điển" đó là từ tôi thường nghe nói ở đây. Không biết có phải do từ "điện" đọc trại ra với sự thành kính? Hay là do từ "ân điển" nói gọn? Tôi hỏi thì không ai trả lời được chỉ nói đó là "Trời chữa bệnh" thôi (!). Cô gái cứ làm vậy suốt gần 1 tiềng đồng hồ rồi đứng lên. Cô khoát tay bảo "cho đi cho đi". Mọi người dạt ra nhường chỗ cho cô bước đi. Tôi thực sự sững sờ và không tin được: cô gái bước đi một cách khỏe mạnh không cần nạng tuy chân bị thương chưa gập gối được nhưng bước đi của cô trông khỏe hơn nhiều so với lúc cô chống nạng bước vào. Cô đi một vòng căn nhà cầu nguyện rồi đến dựa vào tường tiếp tục dùng tay đánh vào người mình. Những người ngồi chữa bệnh lên tiếng: "Điển tiếp tục vào đó!".

Tôi cam đoan với các bạn đây là sự thật 100%. Tôi nghĩ khu vườn này có thể điện trường cao hơn nơi khác như nhận xét của đoàn kiểm tra nhưng tôi tin rằng ở đây có một (hay nhiều) người khuất mặt đang tồn tại dưới dạng siêu nhiên siêu hình như những nhà ngoại cảm thấy được. Có thể bạn không tin nhưng những gì tôi chứng kiến tôi không thể không nói được. Tôi cũng không có ý định cổ vũ cho mọi người đến đây càng không phải là người mê muội nhưng tôi tôn trọng sự thật.

Và các bạn biết không ngày 21/9 tôi đưa cô em gái đi kiểm tra lại thì kết quả bất ngờ bệnh tình tiến triển tốt thấy rõ.

LƯU VỸ BỬU

25/9

More...

GIEO HẠT

By LƯU VỸ BỬU

 

      1.Ngôi trường có tên là Vân Côi nằm dọc bờ bắc sông Tam Kỳ hồi đó có 2 dãy phòng nếu tôi nhớ không lầm thì có tất cả 5 phòng học và một văn phòng tạo thành chữ L ngược. Từ sân trường nhìn ra bên trái là nhà xứ và cạnh đó là nhà thờ lớn nhất ở thị xã này. Nơi đây đã cất giữ của tôi 4 năm học tiểu học (tôi học lớp năm và lớp tư tức lớp 1 và lớp 2 ngày nay chỉ mất 1 năm học) với những kỷ niệm không thể quý báu hơn. Năm học lớp Nhất (tức lớp 5 bây giờ) tôi vẫn còn loắt choắt nhỏ con nhất lớp; trong khi bạn bè tôi con trai có đứa đã biết trốn các soeur hút thuốc con gái đã biết làm duyên (!). Chẳng trách được vì lúc đó có đứa đã 15 16 tuổi rồi trong khi tôi chưa đến 12 tuổi phải sửa khai sinh để đủ tuổi thi tiểu học. Nhưng tôi sau này mới biết chứ lúc đó cứ "con này thằng kia" loạn xạ chẳng phân biệt được lớn nhỏ. Tôi nhớ năm lớp nhì (tức lớp 4 ngày nay) dạy chúng tôi là soeur Anna. Soeur dáng nhỏ nhẹ đi đứng nói năng chưa bao giờ to tiếng ngay với những đứa đầu têu chuyên nghịch phá trong lớp. Có đứa hư quá soeur nói không được ngồi khóc và sau đó dẫn chúng tôi qua nhà thờ cầu nguyện. Không biết Chúa nghe lời cầu nguyện hay mấy đứa nghịch thấy soeur khóc mà sợ mà hối hận không dám phá nữa. Ngược lại với soeur Anna là bà Nhất cũng là Hiệu trưởng của trường. Tôi quên mất tên thánh của bà Nhất chỉ nhớ tên đời của bà là Nguyễn Thị Thu Cẩm vì bà ký tên trong học bạ. Bà Nhất dáng to khỏe trên tay luôn cầm cây roi đuôi cá đuối học trò trong trường sợ bà một phép dù tôi chưa thấy bà đánh đứa nào. Hồi đó tôi còn nhớ tường đối diện với hai dãy bàn học phía trên bảng đen là câu châm ngôn viết chữ in thật lớn: TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN. Còn trên bảng đen cứ mỗi tuần có một câu cách ngôn ví dụ như tuần này là câu : "Một chữ nên thầy một ngày nên nghĩa" thì tuần sau sẽ đổi thành: "Ăn quả nhớ người trồng cây". Và chúng tôi sẽ được học những bài luân lý chung quanh câu cách ngôn đó. Tôi nghĩ những bài học hồi nhỏ nhất là trong giáo khoa thư đã tạo dấu ấn để chúng tôi mang theo trong hành trang của mình sau này.

      2.Vừa rồi trong dịp khai trường các cơ quan báo chí đăng dẫn câu nói của ngài Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Giáo dục: "Học làm người trước khi học lấy chữ" như một "lời vàng ý ngọc". Thực ra câu nói này chỉ là "diễn nôm" phương châm quen thuộc: "Tiên học lễ hậu học văn" thôi. Có điều tôi lấy làm lạ là sao đến bây giờ trong dịp khai giảng ngài Phó thủ tường mới tuyên ngôn? Trễ tất nhiên rồi! Nhưng tình trạng suy đồi đạo đức xuống cấp luân lý dường như đã vượt quá giới hạn khiến ngài Bộ trưởng phải "huấn dụ" cho học sinh cả nước? Tôi không dám lạm bàn chỉ xin có một ý nho nhỏ: "Phương châm đó trước hết là dành cho các thầy cô giáo các nhà sư phạm các nhà quản lý giáo dục.". Hiểu khác đi thì sẽ chỉ là hình thức! Và lẽ ra phương châm này phải được thực hiện khi chúng ta bắt đầu có trường học chứ không phải đến lúc thấy "lễ" băng hoại mới vội vàng "gióng cờ khua trống" làm phong trào. Tuy nhiên nói như người đời thường nói trễ còn hơn không chỉ mong các vị hoạt động trong ngành giáo dục hiểu thấu đáo và thực thi đầy đủ có trách nhiệm phương châm này để khôi phục "lễ" không chỉ trong trường học mà còn ngoài xã hội nữa. Chúng ta gieo gì sẽ gặt nấy. Không thể gieo những hạt giống hư thối cùn bừa mà mong thu hoạch quả sai trái ngọt được? Ngay khi có hạt giống tốt mà không chăm bón bảo vệ đầy đủ cũng chẳng mong có mùa màng bội thu! Chúng ta quay lưng thờ ơ với những di sản cha ông để lại hay thẳng tay phủi sạch hoặc vơ vào tất cả mọi thứ nhận được mà không có chọn lọc không gạn đục khơi trong... đều tạo ra những nguy hại không chỉ trước mắt mà còn ở tương lai. Thực tế cho thấy chúng ta đang trả giá cho những sai lầm của mình không chỉ ở ngành giáo dục. Trường hợp phân ban là một điển hình. Không biết bao nhiêu học sinh sẽ lao đao vì "được chọn làm thí điểm" cho kế hoạch phân ban này. Giáo dục không chỉ phục vụ yêu cầu phát triển xã hội mà còn một chức năng khác không kém quan trọng là nền tảng cho một xã hội nữa. Sự phát triển không cân đối đã sản sinh ra tư tưởng thực dụng học cái xã hội cần học ngành để dễ xin việc có thu nhập cao bổng lộc tốt chứ không phải học để phát triển xã hội!

LƯU VỸ BỬU

More...